Hải Phòng đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Hướng tới thành phố công nghiệp hiện đại, thông minh tầm cỡ thế giới
(HPĐT)- Với vai trò là trung tâm kinh tế khu vực đồng bằng sông Hồng, cực tăng trưởng của miền Duyên hải Bắc Bộ, thành phố Hải Phòng đặt mục tiêu bứt phá mạnh mẽ, là vùng động lực tăng trưởng của cả nước, phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững tầm cỡ khu vực châu Á và thế giới. Trong đó, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được coi là giải pháp đột phá.

Công nhân Công ty TNHH Bluecom vina (Khu Công nghiệp Tràng Duệ) trên dây chuyền sản xuất. Ảnh: MINH TRÍ
Đặt ở vị trí trung tâm trong các đột phá chiến lược
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò ngày càng quan trọng, là một trong những nguồn lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như của từng địa phương. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; một quốc gia có tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là quốc gia có sức cạnh tranh quốc tế cao. Năng lực sáng tạo công nghệ là một trong những tiêu chí cơ bản để xếp hạng năng lực cạnh tranh của quốc gia đó. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm cho các yếu tố đầu vào, nhất là các nhân tố tổng hợp được nâng cao và có hiệu quả hơn, quy mô sản xuất và tiêu dùng ngày càng được mở rộng, tạo ra thị trường mới, hướng về xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và khu vực. Đặc biệt, sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi các quốc gia cần ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ở Việt Nam, sứ mệnh của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhấn mạnh: Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.
Đặc biệt, Đại hội 13 của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để khoa học và công nghệ thực sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội nhấn mạnh: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành một trong các đột phá chiến lược quan trọng nhất tiến tới phát triển nhanh, bền vững, Đại hội yêu cầu: “Có thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng, chuyển giao công nghệ; nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ một số công nghệ mới, hình thành năng lực sản xuất mới có tính tự chủ và khả năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế; lấy doanh nghiệp làm trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ số. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”.
Trên cơ sở định hướng của Đảng, ngày 11-5-2022, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 569/QĐ- TTg ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 với mục tiêu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng phát triển công nghiệp mũi nhọn, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần quan trọng vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, đưa nước ta trở thành nước có công nghiệp hiện đại vào năm 2030; tham gia tích cực, hiệu quả và tận dụng lợi thế thương mại, cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước; đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI)...
Những định hướng đó tạo điều kiện pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo ở Việt Nam thời gian qua. Năm 2022, Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo toàn cầu ghi nhận Việt Nam xếp thứ 54, tăng 5 bậc so với năm 2021. Việt Nam hiện có 4 “kỳ lân” công nghệ (VNG, VNPAY, Momo, Sky Mavis), khẳng định vị thế trong “tam giác vàng” khởi nghiệp của Đông Nam Á, bên cạnh Singapore và Indonesia. Điều này thể hiện trên Bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), trong 12 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo. Đến năm 2023, Việt Nam xếp hạng 46/132 quốc gia, nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2022. Như vậy, từ năm 2017 đến nay, chỉ số GII của Việt Nam liên tục được cải thiện, tăng từ vị trí 59 (năm 2016) lên 42 (năm 2019 và năm 2020), 44 năm 2021, 48 năm 2022 và 46 năm 2023. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo, tăng 2 bậc so với năm 2022, từ vị trí 59 lên 57. Đầu vào đổi mới sáng tạo gồm 5 trụ cột: Thể chế, nguồn nhân lực và nghiên cứu, cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển của thị trường, trình độ phát triển của doanh nghiệp.
Theo WIPO, Việt Nam là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ nhất về đổi mới sáng tạo trong thập niên qua (gồm Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Việt Nam, Philippins, Indonesia và Iran). Việt Nam cũng là một trong 3 quốc gia (cùng Ấn Độ, Moldova) giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 13 năm liên tiếp.
Cơ hội cho Hải Phòng bứt phá
Sau 17 năm thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW, ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khóa 9 “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, thành phố Hải Phòng đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Đồng thời, Hải Phòng đã khẳng định được vai trò là thành phố đầu tàu kinh tế, là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa chính ra biển Đông, kết nối quốc tế của khu vực Bắc bộ và miền Bắc.
Để tạo động lực thúc đẩy Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á, ngày 24-1-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nhấn mạnh quyết tâm: Xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa; động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước; có công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững; kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại kết nối thuận lợi với trong nước và quốc tế bằng cả đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không; trọng điêm dịch vụ logistics; trung tâm quốc tế về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, kinh tể biển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao ngang tầm với các thành phố tiêu biểu ở châu Á; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh được giữ vững.
Nghị quyết xác định mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đối với Hải Phòng trên ba trụ cột chủ yếu là: Công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại. Hải Phòng bước đầu triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35/2021/QH15, ngày 13-11- 2021 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 16, nhiệm kỳ 2020 - 2025; trong đó chú trọng đầu tư phát triển khoa hoc, công nghệ, đổi mới sáng tạo với các chương trình chuyển đổi số được triển khai mạnh mẽ ở các cấp, ngành, địa phương, trong đó chú trọng triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động giai đoạn 2021 - 2025 của các chương trình khoa học và công nghệ có mục tiêu, trọng điểm; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ; phát triển thị trường khoa học và công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thúc đẩy hợp tác trong nước và quốc tế về khoa học và công nghệ. Nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển tài sản trí tuệ. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân tham gia chuẩn bị ứng phó, ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân trên địa bàn thành phố./.
(Còn tiếp)