Cậu học trò năm ấy
(HPĐT)- Truyện của thầy giáo có thâm niên đứng lớp ở ngôi trường nổi tiếng tại cố đô Huế, vì thế tình thầy trò, chuyện của những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, chuyện của những thân phận học đường, của những khát vọng tuổi trẻ, những ước mơ hoài bão vươn lên… được khắc họa thật chân thực và sống động. Cậu học trò năm ấy đã xảy ra chuyện gì? Ảnh hưởng đến học tập và vượt qua ra sao? Đã thực hiện ước mơ của mình như thế nào? Để bây giờ cậu học trò năm ấy thành công hay thất bại trên đường đời xa thẳm của mình? Tất cả được kể lại một cách chân phương, mộc mạc từ điểm nhìn mô phạm của người thầy có tâm với nghề dạy học. Giữa ngổn ngang những âm thanh có phần gay gắt của xã hội về ngành Giáo dục hiện nay, truyện cất lên cơ hồ như thanh âm êm dịu, để rồi neo lại trong lòng người đọc điều gì đó như là niềm tin yêu vào cuộc đời này…

Minh họa: Đặng Tiến
Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Xuân ngẩng đầu lên nhìn tôi rồi ngoảnh mặt đi nơi khác mỗi khi bắt gặp ánh mắt của tôi. Có lần, tôi cố tình nhìn chăm chăm về phía Xuân để cậu ta không còn “cơ hội” lảng sang hướng khác, vậy mà dường như đoán biết được, cậu luôn tránh ánh mắt tôi. Khi thì cậu cúi mặt xuống, khi thì cậu nhìn mông lung ra cửa sổ, nơi có cây khế sai quả. Có lẽ Xuân không dám, hay nói đúng hơn là không thích nhìn đối diện với tôi vì em vẫn chưa quen hình ảnh người thầy chủ nhiệm mà nhiều bạn đi trước nói là khó tính, khó gần.
Về dạy ở trường trung học phổ thông bán công Phương Lam, tôi được Ban giám hiệu phân công dạy bộ môn Hóa và chủ nhiệm lớp 10A. Trải qua một năm, thầy trò hiểu nhau hơn, các em đoàn kết, gắn bó, lớp luôn đứng vị trí thi đua nhất nhì khối. Sức học các em không bằng học sinh các trường phổ thông tuyển đầu vào cao trong thành phố, nhưnghọc trò của tôi khá năng động, mạnh về các môn thể thao và văn nghệ.
Bước sang năm học mới, lớp 10M giải tán vì có nhiều học sinh nghỉ học và lưu ban. Những học sinh còn lại của lớp này được phân rải rác vào các lớp 11 và Xuân vào lớp tôi. Tháng học đầu, em chưa hòa nhập với lớp mới, tuần nào cũng vắng học hai, ba buổi. Giờ học của tôi, Xuân chẳng chịu ghi chép. Các môn học khác cũng vậy. Chính sự vi phạm ấy của Xuân làm điểm số thi đua của lớp tôi chủ nhiệm rớt hạng hằng tuần. Giờ sinh hoạt nào tôi cũng nhắc nhở Xuân. Có lúc, không kiềm chế được, tôi đã nói to tiếng với em giữa lớp. Nhưng nhắc nhở thế nào Xuân cũng im lặng, không phản ứng gì. Ngày nối ngày, em vẫn đi học trễ, vẫn vắng mặt không phép, vẫn không học bài cũ…
Thầy trò mới làm quen nhau trong tháng đầu năm học nên tôi chưa muốn làm việc riêng với bố mẹ em. Nhưng chứng nào tật ấy, có vẻ như em không hợp tác với lớp mới. Lần này tôi quyết định mời bố mẹ em đến làm việc. Giấy mời tôi gửi cho Xuân. Đúng lịch hẹn, vào giờ ra chơi, bố của Xuân đợi tôi ở văn phòng trường. Bố Xuân chừng ngoài 50, khuôn mặt đỏ bừng, thở ra mùi men nồng nặc. Tôi thật sự khó chịu trước hình ảnh này của ông khi đến gặp giáo viên chủ nhiệm của con mình. Không nhìn thẳng vào tôi, ông cứ nói những câu nhát gừng. Vì có hơi men nên ông nói tiếng to, rồi khăng khăng đòi cho con nghỉ học. Tôi chỉ đề nghị bố em về nhà, hẹn dịp khác sẽ gặp và trao đổi chuyện của Xuân.
Vào ngày cuối tuần, tôi tìm đến nhà Xuân. Ngôi nhà cấp bốn của em ở vùng ven thành phố, phía trước có dòng sông chảy qua. Em không ở nhà. Mẹ của Xuân tiếp tôi trên chiếc bàn gỗ đã cũ kỹ. Người phụ nữ có dáng vẻ khắc khổ chậm rãi thanh minh với tôi:
- Hắn cứ than với tôi là năm nay lên lớp 11 không có bạn, lớp 10 cũ bị xáo mỗi đứa một nơi nên chừ hắn không muốn học. Tui tiếng to tiếng nhỏ đủ lời khuyên nhủ hết lời để nó không bỏ học. Khổ mấy cũng được, tui phải cho hắn học hết lớp 12, rồi ưa làm chi thì làm.
- Vậy bố của cháu thế nào? Có cùng chị để động viên cháu đi học không?
Hỏi đến đây, đôi mắt của người phụ nữ nhìn ra bờ sông, chị thở dài buồn bã:
- Nói ra thì ngại lắm thầy. Mà thôi, tôi cũng không giấu thầy, mong thầy hiểu mà khuyên bảo thằng Xuân giúp.
Rồi qua câu chuyện của mẹ Xuân, tôi được biết thêm về hoàn cảnh của em. Xuân là con riêng của mẹ. Em lớn lên trong tình cảnh không có bố, hai mẹ con sống với ông bà ngoại. Nhà ngoại thì đông người, nghèo khó, nhiều lần chứng kiến cảnh mẹ tủi thân, bị các cậu mợ đối xử tệ, Xuân hậm hực trong lòng nhưng không làm gì được để giúp mẹ. Rồi người đàn ông đang sống chung nhà bây giờ với mẹ con Xuân xuất hiện. Ông không phải là bố đẻ của Xuân. Sau khi ra tòa với người vợ trước vì không có con, ông đến nhà ngoại của Xuân xin làm dăm ba mâm, đón mẹ con Xuân về chung nhà. Hiểu hoàn cảnh của mình, mẹ Xuân đồng ý để mong có chỗ nương thân, sau này tuổi già nương tựa nhau mà sống. Năm đó, Xuân mới học lớp 7, nên cũng ngoan ngoãn theo mẹ đến nhà của người mà Xuân gọi là bố dượng. Thời gian đầu, ông rất yêu thương Xuân, nhưng rồi càng ngày càng đối xử tệ. Xuân học hành thế nào, làm gì, ông cũng chẳng quan tâm. Từ dạo thất nghiệp, ông hay uống rượu, to tiếng với mẹ con Xuân. Mỗi lần mẹ của Xuân nói về chuyện học hành của con, ông trả lời lạnh lùng: “Học hay nghỉ tùy. Nếu thấy học không vào thì bỏ đi, đi làm thuê mà ăn”.
Vốn đã thiếu tình thương của bố, nhiều năm thui thủi bên nhà ngoại, Xuân càng sống khép kín, lầm lì, ngại giao tiếp, cũng chẳng muốn mở lòng với ai. Sau khi thăm nhà và nghe được câu chuyện gia đình từ người mẹ, tôi lại thấy thương cậu học trò của mình hơn. Trái tim non nớt của những đứa trẻ bao giờ cũng dễ bị tổn thương bởi những lấm lem cuộc đời. Chính môi trường, hoàn cảnh sống của gia đình tạo nên vết xước để các em lớn lên nhìn cuộc đời không như những người khác.
Thay bằng những lời phê bình, lớn tiếng với Xuân trước lớp, sau mỗi buổi học tôi lại gặp riêng em. Một vài buổi đầu tôi gặp, em tỏ ra khó chịu, bất cần. Không nản chí, mưa dầm thấm đất, tôi vẫn kiên trì đối diện với Xuân để nói chuyện, để nghe em chia sẻ. Xem em như người bạn, dần dần Xuân mở lòng ra với bạn bè, với thầy cô. Em đã khắc phục được các lỗi nền nếp, chăm học và học tiến bộ lên rất nhiều. Kết thúc năm lớp 11, Xuân đạt danh hiệu học sinh tiên tiến, điểm tổng kết các môn Toán, Lý, Hóa thuộc tốp đầu của lớp.
Vào một chiều mùa đông, khi Huế tầm tã mưa trong hơi lạnh tê tái của tháng cuối năm, Xuân đạp xe về nhà tôi với đôi mắt đỏ hoe. Biết có chuyện chẳng lành, tôi mời em vào nhà, từ tốn hỏi chuyện. Từ ngày tôi lên nhà gặp mẹ, Xuân không còn “khách sáo” đối với tôi. Nhiều lần tôi trở thành “chuyên gia tư vấn” khi em cần “gỡ rối”. Mới hôm qua, Xuân còn vui vẻ đi tập văn nghệ chuẩn bị đón chào năm mới cùng với lớp, không biết hôm nay gia đình em xảy ra chuyện gì. Tôi vừa nôn nóng, vừa tò mò. Năm phút, rồi mười phút trôi qua. Xuân vẫn ngồi im lặng dù tôi có cố hỏi. Cuối cùng, với đôi mắt rơm rớm nước, em ấp úng:
- Em…em xin lỗi thầy, vì thầy phải nghe những chuyện chẳng vui, chuyện rắc rối từ gia đình em…
- Ôi, em đừng ngại, em cứ chia sẻ, nếu giúp được gì thầy sẽ cố. Biết đâu em sẽ cảm thấy nhẹ lòng.
Được tôi động viên, Xuân mới trải lòng:
- Thưa thầy, người mà lâu nay em gọi là mẹ té ra không phải là mẹ ruột của em. Hoá ra em chỉ là… đứa con hoang.
Nói đến đây, không kiềm chế được, Xuân nấc lên nghẹn ngào. Tôi lại tiếp tục tìm lời lẽ để an ủi, đồng cảm với cú sốc quá lớn của cậu học trò.
- Sao em lại nói thế? Em nghe thông tin từ đâu? Em không được nghe người ta nói lung tung. Phải tin mẹ của mình...
- Dạ không, em nghe từ chính miệng của mẹ. Tình cờ ba dượng và mẹ cãi nhau khi làm vườn, em nấp ở bụi chuối nghe hết.
Rồi Xuân kể cho tôi nghe những lời qua tiếng lại mà em tình cờ nghe được từ ba dượng và mẹ.
- Ông suốt ngày rượu chè be bét, có quan tâm chi đến thằng bé đâu. Đêm hôm ông nhậu say xỉn, có ngày té giữa đường, không ai thấy thì khổ vợ, khổ con.
- Bà đừng có mà nói xui xẻo. Bà mong chuyện xấu đến với tôi hả? Thằng Xuân ư, nó có máu mủ gì mà xót cho tôi.
- Ông đừng nói vậy, con nghe được nó buồn.
- Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi, nhà mình nghèo, cho nó nghỉ học đi, sau ni làm nên trò trống chi mà học với chả hành.
- Đời mình đã khổ, cho nó kiếm dăm ba chữ sau này… Bữa ni làm công nhân cũng cần cái bằng lớp 12 ông à.
- Bà ngồi đó mà tính với toán. Hắn có máu mủ chi bà, sau này lớn hắn tìm cha, tìm mẹ hắn về thôi. Rồi chẳng hoá ra bà nuôi ong tay áo…
Cụm từ “hắn có máu mủ chi với bà” làm đầu óc Xuân quay cuồng. Em không tin vào tai mình nữa. Chuyện ba chỉ là cha dượng thì Xuân biết, nhưng người mẹ bấy lâu nay lại không phải là mẹ ruột thì cậu chưa nghe bao giờ. Lẽ nào Xuân là đứa trẻ không cha, không mẹ ngay từ khi mới lọt lòng? Có lẽ lắm. Vì khi còn ở với nhà ngoại, chẳng có ai quan tâm, yêu thương Xuân cả. Bà ngoại thì mất sớm, ông ngoại hay cau có. Mấy dì, mấy cậu hay to tiếng với thằng cháu. Rất nhiều lần Xuân tủi, ngồi ấm ức khóc một mình. Vì thế lời nói của ông bố dượng khiến cho Xuân không ngừng nghĩ ngợi và đau khổ.
Nghe xong câu chuyện của Xuân, mắt tôi cay xè. Không biết nói gì cho cậu học trò vơi bớt nỗi lòng, tôi lấy xe chở em đi lòng vòng rồi dừng lại ở quán nước dưới một gốc cây cổ thụ. Tôi kể cho Xuân nghe những câu chuyện về hoàn cảnh của vài em học sinh mà mình biết khi làm chủ nhiệm mấy năm trước. Thực ra, tôi cũng chẳng thích kể những câu chuyện buồn lúc này. Nhưng tôi kể với hy vọng làm cho Xuân vơi bớt nỗi đau trong lòng khi em biết rằng chung quanh mình cũng có không ít hoàn cảnh thật đáng thương.
Những ngày sau đó, Xuân đến trường với vẻ mặt buồn buồn, ít nói cười hơn trước. Chị Sen - mẹ của em đã biết chuyện. Lòng người mẹ nghèo ấy đau như cắt và bất lực nhìn con buồn. Nuốt nước mắt vào trong, lấy hết can đảm và bằng tình thương của người phụ nữ, những lúc chồng đi vắng, chị đã nói chuyện với con. Không giấu diếm điều gì, chị nói hết sự thật cho Xuân nghe. Trong số 6 người con thì chị Sen là người thiệt thòi nhất. Khi sinh ra, chị đã có tật bẩm sinh, chân bước thấp, bước cao, nên từ nhỏ, người trong vùng hay gọi chị là bé cà thọt. Lớn lên, có người vẫn cứ gọi chị bằng cái biệt danh như thế. Lâu dần thành quen, chị không hề giận. Thua thiệt về ngoại hình, cả quãng đời con gái, chị chẳng được người con trai nào để ý. Cứ thế, cuộc sống chị trôi qua trong nỗi vất vả với công việc nội trợ, nuôi lợn, nuôi gà… Rồi một ngày, chị nhớ như in, đó là ngày đầu xuân, năm con chuột, sáng sớm chị ra bến sông trước nhà để giặt, giật mình khi nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc trong bụi cây. Sợ quá, chị vào nhà gọi ba, mẹ mình ra. Đứa trẻ tím tái, cuốn trong chiếc khăn tắm. Ba mẹ chị quyết định giữ đứa bé lại để chị nuôi. Chị đặt tên đứa trẻ là Xuân. Vậy là từ mùa xuân năm đó, chị được làm mẹ, khi đã tròn 30 tuổi.
Thấu hiểu hoàn cảnh và tấm lòng của mẹ Sen, dần dà, Xuân vơi bớt nỗi buồn. Năm học lớp 12, lực học của Xuân tiến bộ hẳn. Em hứa với tôi là quyết tâm thi đỗ vào Đại học Bách khoa Đà Nẵng để đền đáp công ơn nuôi dạy của mẹ, và cũng để khẳng định với bố dượng rằng, không có chuyện “khác máu tanh lòng”, hy vọng ông sẽ thức tỉnh mà yêu thương mẹ hơn.
Ước mơ đã trở thành hiện thực. Ngày biết điểm đại học, trên chiếc xe đạp cũ, Xuân hớt hơ hớt hải đèo mẹ đến nhà báo tin cho tôi. Rồi hai mẹ con rối rít cảm ơn tôi không biết bao nhiêu lần. Tôi thật sự xúc động. Cuối cùng thì cậu học trò nhỏ có hoàn cảnh đáng thương cũng đã toại nguyện ước mơ của mình.
Cơm đùm gạo bới, xa Huế, xa mẹ, Xuân vào Đà Nẵng trọ học. 5 năm đại học trôi qua, tốt nghiệp loại giỏi, Xuân được doanh nghiệp ở Đà Nẵng nhận vào làm việc. Em lấy vợ, làm nhà và đưa mẹ Sen cùng cha dượng vào ở cùng. Cha dượng đã thay đổi hẳn tính nết, sau trận ốm ông không còn uống rượu và càm ràm với mẹ Xuân nữa. Những ngày cuối tuần, Xuân thường ra Huế và ghé thăm tôi. Không còn nét mặt trầm ngâm, ít nói của cậu học trò năm nào.
Cuối năm nay Xuân lại đưa cả nhà về Huế thăm họ hàng bên ngoại. Em tranh thủ tới chào thầy giáo cũ. Chàng kỹ sư Xuân bây giờ cao lớn, vạm vỡ, lúc nào cũng rổn rảng nói cười, sống rất vô tư, yêu đời. Nhìn em, tôi càng thấy ấm lòng và vững tin hơn vào nghề giáo mà mình đang theo đuổi./.