Sài Khao mùa hoa đào nở

Bút ký của NGUYỄN ĐÌNH TÚ 09/02/2024 14:22

(HPĐT)- Ngay khi có trong tay cuốn hồi ký viết về “Đoàn võ trang tuyên truyền biên khu Lào - Việt” của nhà thơ Quang Dũng, tôi liền lần bước trên con đường từng làm nên bài thơ “Tây Tiến” bất hủ. Lần này, tôi muốn đưa cảm xúc của mình vượt thoát tới miền Tây xứ Thanh, hòng minh định một cung đường thơ vốn bao phủ quá nhiều giai thoại.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú bên bức phù điêu khắc họa hình tượng những người lính Tây Tiến năm xưa.

Từ thành phố Thanh Hóa, ngược quốc lộ 47 lên đến ngã ba Đồng Tâm, tôi không rẽ vào đường đi Quan Sơn mà bập vào quốc lộ 15A đi huyện Quan Hóa. Địa bàn hoạt động của đoàn binh Tây Tiến trước đây được gọi chung là Quan Hóa, nhưng theo địa giới hành chính bây giờ thì đã được chia thành ba huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát. Qua huyện Quan Hóa thì sẽ lên tới cổng trời. Lên tới cổng trời tức là chạm vào xã Trung Lý, xã đầu tiên của huyện Mường Lát, cũng tức là lên một bình độ mới, cao hơn bảy trăm mét so với mực nước biển, được khoanh bởi một đường biên giới dài hơn trăm ki lô mét giáp với tỉnh Hủa Phăn của Lào. Bám theo các xã dọc đường biên này có 5 đồn biên phòng đứng chân. Tôi chọn điểm dừng chân đầu tiên là Đồn biên phòng Tén Tằn, bởi tại đây tôi sẽ tận mắt được nhìn thấy sông Mã chuyển hướng đổi dòng “trở lại quê nhà” như thế nào.

Ngay câu thơ đầu tiên của bài thơ “Tây Tiến”, nhà thơ Quang Dũng đã nhắc đến con sông này. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi… Sông Mã bắt đầu từ đâu? Tại sao lại sông Mã gắn liền với hình ảnh “chào sông Mã anh hùng” của Thanh Hóa, đồng thời lại có huyện Sông Mã thuộc tỉnh Sơn La? Thì ra, khởi nguồn của con sông này được bắt đầu từ một số con suối nhỏ ở tỉnh Điện Biên. Khi chúng hợp lưu lại và chảy qua tỉnh Sơn La thì chính thức có tên là sông Mã. Từ Sơn La, sông Mã chảy sang Lào, qua hai huyện của tỉnh Hủa Phăn rồi vòng trở lại Việt Nam, đổ vào cửa khẩu Tén Tằn. Vậy thì Sông Mã trong thơ Quang Dũng chính là đoạn sông chảy qua Mường Lát để xuôi về đồng bằng Thanh Hóa trước khi đổ ra biển. Sông Mã đoạn chảy qua các huyện phía Tây Thanh Hóa rất dốc, ít phụ lưu, vì thế mỗi khi có mưa rừng thì lũ dâng lên rất nhanh, dòng nước trở nên cô độc và hung dữ, chỉ có thể “gầm lên khúc độc hành” giữa bao la đất trời biên giới. Hình ảnh con nước xiết ấy càng làm cho cảnh huống thê lương hơn khi nhà thơ của chúng ta bắt gặp “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, chứng kiến phút giây “áo bào thay chiếu anh về đất” sau nhiều lần “gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

Đồn Tén Tằn nằm cách thị trấn Mường Lát chừng chục cây số. Tối đến, tôi tự tìm vào thị trấn để hình dung ra câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” thực sự có ý nghĩa như thế nào. Mường Lát hiện lên trong mắt tôi là vài con phố bám theo lòng thung nhỏ hẹp nhưng điện sáng lung linh, những đại lý xe máy to rộng, những cửa hàng quần áo tràn ra lòng đường, những gian hàng lâm thổ sản đầy chật hàng hóa, cả những quán trà sữa cho tuổi teen cũng hiện diện trên đất này. Không thể tìm thấy “hoa” hay “đêm hơi” trong thơ Quang Dũng ở thị trấn Mường Lát hôm nay. Tôi lại trở về đồn Tén Tằn và thao thức với câu thơ vốn có nhiều cách hiểu khác nhau. Tại sao lại là “hoa về trong đêm hơi?”. Hoa cài nắp ba lô trên lưng người lính Tây Tiến, hay những cây đuốc nở hoa trong đêm đen tĩnh mịch, hay là chính các anh- những người con tinh hoa của đất trời? Đêm hơi là một đêm tràn đầy hơi sương hay là khói bếp tỏa ra từ những ngôi nhà sàn nép mình bên chân núi? Hay đêm vừa mới xuống? Hay là bóng đêm nhẹ mỏng như một làn hơi? Giấc ngủ mộng mị khiến tôi choàng tỉnh vào lúc ba giờ sáng. Tôi dạo bước quanh đồn, ngước mắt nhìn về hướng Mường Lát. Núi đồi chìm trong đêm đen. Thỉnh thoảng trên vách núi xa hiện lên đốm sáng như ánh thiên thạch rớt xuống giữa trời đêm. Có thể đó là ánh sáng điện của tổ đội biên phòng, cũng có thể đó là ánh sáng phát ra từ bếp lửa nhà ai dậy sớm nơi bản xa. Hay đấy chính là “hoa về trong đêm hơi” của người lính Tây Tiến âm thầm hành quân cùng đồng đội tới Mường Lát hơn nửa thế kỷ trước?

Nói đến Mường Lát thì không thể không nhắc đến Sài Khao. Ngay khổ đầu tiên của bài thơ Tây Tiến hai địa danh này đã được nhắc đến như cặp bài trùng có sức mời gọi ghê gớm: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Mường Lát thì tôi đã đến, đã tự tìm thấy một cách hiểu thêm về câu thơ tài hoa của Quang Dũng, còn Sài Khao ở đâu? Nghe mông lung, xa vời, vô định lắm. Theo hồi ký của thi sĩ xứ Đoài thì lên Sài Khao đến nửa đường sẽ gặp những bãi đất rộng với “bát ngát màu hoa thuốc phiện, thỉnh thoảng lác đác có một cái chòi lợp lá”. Bây giờ Sài Khao là một trong 16 bản của xã Mường Lý. Muốn lên Sài Khao có hai đường, một là đến trung tâm xã Mường Lý, đi tiếp qua các bản Muống, bản Xu Luông, bản Trung Thắng sẽ đến. Đường này khá dài, đi lâu và mất nhiều thời gian. Đường thứ hai là từ Mường Lát qua xã Tam Chung đến bản Suối Lóng, ngược lên những con dốc cao thẳng đứng, tới ngọn núi cao nhất (hơn 1000 mét so với mực nước biển) là vào đến bản Sài Khao. Theo địa bàn quản lý của biên phòng, nếu đi theo đường Mường Lý thì phải nhờ đến các anh ở Đồn Pù Nhi dẫn đường, còn đi theo đường Suối Lóng thì phải nhờ các đồng chí ở Đồn biên phòng Tam Chung.

Tôi chọn đi theo lối Suối Lóng. Không phải vì đường này ngắn hơn, cũng không phải vì có nhiều đoạn dốc đứng hiểm trở, mà đường này có nhiều nét giống với con đường mà đoàn quân Tây Tiến từng đi. Theo nhà thơ Quang Dũng thì “Sài Khao - Cái ngọn núi mờ nhất ở sau hàng núi sẫm, cứ đứng ở chân núi mà nhìn lên các miền mây thăm thẳm ấy, người ta thấy nản bước trèo, thương cho những vó ngựa…”. Ngày xưa các cụ Tây Tiến đi bằng ngựa, còn bây giờ chúng tôi đi bằng… xe máy. Chở tôi đi là thiếu tá Lê Văn Nhất, một cán bộ biên phòng từng 30 năm lăn lộn ở biên giới, hiện đang công tác tại tổ đội biên phòng Suối Lóng. Dốc càng lên cao càng hẹp. Đường dân sinh rải đá núi lởm chởm, bụi mù, xe máy cứ nẩy tâng tâng, tôi ngồi sau vừa ôm chặt Nhất vừa nín thở mỗi khi qua những khúc quanh bên hẻm núi. Ngày xưa lính Tây Tiến đi hai ngày mới lên tới Sài Khao. Nhà thơ Quang Dũng kể: “Hai ngày đường lặng lẽ, chỉ cắm đầu xuống mà trèo, chỉ trông thấy mây và đá núi, chỉ nghe thấy gió ù ù thổi như hắt hơi lửa vào mặt”, thỉnh thoảng lại thấy “những bãi hoa thuốc phiện”. Giờ thì không còn bãi hoa thuốc phiện nào nữa. Tới một đỉnh dốc, Nhất dừng xe lại, chỉ xuống một lòng thung với những mái nhà sàn nhấp nhô, bảo: “Đó là bản Pọng. Ngày xưa bản đó trồng rất nhiều anh túc, tức là cây thuốc phiện. Vào mùa hoa anh túc nở bạt ngàn, nhìn như muôn vàn cánh bướm bay rợp cả thung lũng này”. À, vậy thì đúng là con đường mà nhà thơ Quang Dũng từng đi là đây rồi. Chỉ có điều cây anh túc bây giờ đã bị phá bỏ. Thay vào đó, đường lên Sài Khao mọc rất nhiều đào, chủ yếu là đào phai.

Cảm giác một Sài Khao trong thơ Quang Dũng đang hiển lộ trước mắt càng rõ ràng hơn khi bước chân vào tới đầu bản đã bắt gặp ngay bức phù điêu chạm khắc hình ảnh những người lính Tây Tiến với áo trấn khủ, súng khoác vai. Bức tượng có phần sơ sài nhưng khá trang nghiêm. Nghe nói để có được bức phù điêu này dựng ở đây, con gái nhà thơ Quang Dũng cùng các đồng chí trong Ban liên lạc Trung đoàn Tây Tiến đã bỏ ra rất nhiều tâm huyết và công sức. Sau khi thắp hương trước bức phù điêu, tôi nhờ thiếu tá Nhất đưa đến nhà trưởng bản. Nhưng trưởng bản đi làm không có nhà. Lại vào nhà phó bản. Phó bản cũng không có nhà. Tìm đến nhà bản đội trưởng, chỉ gặp bà cụ già người Mông đang ngồi ăn sắn luộc bên con khỉ nhỏ dưới mái hiên rộng rụng đầy cánh đào phai. Bà cụ tên là Giàng Thị Ly, năm nay 75 tuổi, bị đau chân nên ở nhà một mình, chồng và con đều đi làm cả. Cậu con trai cả của bà cụ đi bộ đội về, bây giờ đang làm bản đội trưởng, cũng lên rừng từ sáng sớm rồi. Qua câu chuyện với bà cụ, tôi hiểu là đàn ông trong bản hầu hết đều đi làm nương từ sáng sớm đến chiều tối mới về, trẻ em thì đi học tại các điểm trường, ở nhà chỉ còn phụ nữ già yếu.

Từ đầu bản đến cuối bản là con đường đất hẹp, dài chừng hơn cây số, hai bên có khoảng bảy chục nóc nhà nằm lúp xúp bên những vạt đồi. Đâu đâu tầm mắt cũng vướng phải những sắc đào đang khoe sắc bên tiết trời sương giá. Hầu như không có nhà xây, những ngôi nhà của người Mông ở Sài Khao đều quây bằng vách gỗ, mái lợp tôn hoặc fibro xi măng. Bản được hình thành từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, do những người Mông di cư từ Sơn La sang, đến nay vẫn chưa có điện lưới và nước sạch. Như vậy đây là bản mới chứ không phải bản Sài Khao mà những người lính Tây Tiến năm xưa từng đến, từng ăn ở và làm công tác vận động cách mạng với đồng bào? Theo hồi ký của Quang Dũng, sau khi leo lên đỉnh Sài Khao, ra đón đoàn quân Tây Tiến vào bản là những người Dao “dùng tiếng quan hỏa, lai nhiều tạp âm”, phụ nữ đầu đội mũ hình phễu cao vút bằng vải xanh viền đỏ, mặc quần áo lòa xòa thêu sặc sỡ, nhiều vạt, đàn ông ăn mặc như người Xạ Phang, đầu cạo trọc để chỏm tóc dài ở giữa khoáy. Nhà thơ tài danh cũng kể rằng, nhà ở đây tường đắp bằng đất, không có ngưỡng cửa, giữa nhà lợn bò hứng chí cứ ra vào tự do, có mấy cái giường căng bằng da gấu, bàn thờ có mấy hàng chữ Hán…

Vậy cái bản người Dao đó bây giờ ở đâu? Liệu Sài Khao này có phải là “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” trong thơ của Quang Dũng? Hay còn có một Sài Khao khác mà chúng ta chưa tìm ra? Hay ở đây từng có những đồng bào Dao cư ngụ nhưng đó chỉ là khoảng thời gian tạm canh, tạm cư ngắn ngủi, sau đó họ lại theo bước chân du mục mà tìm đến những vùng đất khác sinh nhai? Có lẽ là thế, bởi suy diễn thế nào thì cũng phải minh định điều rằng: Ở đây có quá nhiều đặc điểm của Sài Khao trong thơ Quang Dũng. Đơn giản như, chỉ cần đứng ở cuối bản, theo hướng tay chỉ của thiếu tá Nhất, tôi có thể nhìn thấy dãy Pha Luông kỳ vĩ ẩn hiện trong mây trắng. Nếu không phải đứng đây, nhìn về Pha Luông cao gần 2.000 mét, “nóc nhà biên giới” của ba tỉnh Thanh Hoa - Sơn La - Hủa Phăn vào một chiều mưa trắng trời trắng đất, thì làm sao có thể nảy ra câu thơ tuyệt bút “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”? Có vẻ như, cái thơ mộng đại ngàn bên ấy của Pha Luông đối diện với cái mờ ảo mù sương bên này của Sài Khao mới thật là đỉnh điểm cảm xúc của người thơ Quang Dũng sau những “heo hút cồn mây” mà ông đã trải qua.

Tiếc là không thấy nhà thơ Quang Dũng nhắc đến đào trong hồi ký của mình, chủ yếu chỉ thấy ông viết về hoa thuốc phiện. Nếu ông viết về đào ở Sài Khao thì chắc chắn tôi sẽ có thêm nhận diện nữa về địa danh đặc biệt này, để không thể nhầm lẫn với bất cứ nơi nào khác. Vì đào ở đây rất đặc biệt. Mỗi năm đào không chỉ ra hoa một lần vào dịp Tết mà “đào khai tam bận” mới “tất niên”. Theo cụ Giàng Thị Ly, cứ độ cuối thu đầu đông là đào bắt đầu nở hoa. Nở và tàn trong vòng một tháng. Cứ vậy trung bình một tháng đào lại nở hoa một lần. Để lần nở cuối cùng chính là vào dịp cuối tháng Chạp và giữ sắc hoa ấy đến ra Giêng.

Ngày xưa Quang Dũng từng viết những câu thơ buồn man mác: Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi/ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi… Còn bây giờ, bất kỳ ai lên Mường Lát, Sài Khao vào mùa xuân sẽ nhận ra mình đang chứng kiến điều kỳ thú nhất của cuộc đời, bởi không ở đâu có thể bắt gặp bạt ngàn những gốc đào phai thắm sắc đất trời bung nụ nở hoa ba lần đón Tết như ở nơi này.

Bút ký của NGUYỄN ĐÌNH TÚ