Nghệ thuật chèo truyền thống: Trên đường ghi danh thế giới

(HPĐT)- Chính phủ vừa đồng ý để Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch gửi hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Chèo” của 14 tỉnh, thành phố để trình Tổ chức Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh “Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
Hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Chèo” của Việt Nam trình UNESCO gồm 14 tỉnh, thành phố tham gia, là Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các tỉnh: Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên. Đây được xem là những vùng đất giàu truyền thống, còn gìn giữ và bảo tồn được những tinh hoa của chèo - nghệ thuật kịch hát dân tộc đặc sắc.
Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, sân khấu đánh giá, “Chèo” được biết đến rộng rãi trong xã hội Việt Nam bởi sự thân thuộc, mộc mạc của những chiếu chèo. Chèo phát triển mạnh ở phía Bắc nước ta với trọng tâm là vùng đồng bằng sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Theo hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Chèo” của Việt Nam trình UNESCO, chèo mang tính quần chúng và thường gắn với các lễ hội dân gian nhằm tạ ơn thần thánh phù hộ vụ mùa bội thu, dân làng no ấm, để những người nông dân thường ngày chân lấm tay bùn có thể giao lưu, cất lên tiếng lòng của mình.
Những làn điệu chèo thường sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Trải qua quá trình lịch sử từ thế kỷ 10 đến nay, nghệ thuật chèo đi sâu vào đời sống văn hóa, xã hội, miêu tả cuộc sống bình dị của người nông dân, ca ngợi những phẩm chất cao quý của con người. Bên cạnh đó, cũng có những vở chèo mang tính hài hước, phê phán những thói hư, tật xấu, chống lại bất công, thể hiện tình yêu thương, lòng bao dung, sự tha thứ. Cùng với sự phát triển, nhiều loại hình văn hóa giải trí thời đại mới du nhập và tác động vào nước ta, nhưng nghệ thuật chèo vẫn đứng vững. Bởi vậy ca dao có câu “Chẳng thèm ăn chả, ăn nem/Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo”.
Tỉnh Thái Bình được biết đến là “cái nôi” của nghệ thuật hát chèo. Thông tin từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh này cho biết, toàn tỉnh hiện có 234 câu lạc bộ chèo; 100% số trường học đưa hát chèo truyền thống vào chương trình giảng dạy. Năm 2023, nghệ thuật chèo tỉnh Thái Bình được ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. UBND tỉnh Thái Bình cũng phê duyệt Đề án phát triển nghệ thuật chèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022- 2025 định hướng đến năm 2030. Trong đó, tỉnh Thái Bình đặt mục tiêu 100% số xã, phường, thị trấn có câu lạc bộ chèo; 3 năm/lần tổ chức liên hoan nghệ thuật chèo quần chúng toàn tỉnh. Mỗi năm, Nhà hát chèo Thái Bình bảo lưu ít nhất 2 vở diễn, 5 trích đoạn, 20 làn điệu chèo cổ tiêu biểu, đặc sắc, đồng thời dàn dựng ít nhất 2 vở chèo mới trở lên phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Theo Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam Mai Thành Chung, nhiều địa phương trong tỉnh vẫn giữ những làn điệu chèo, diễn chèo và hát chèo, coi nghệ thuật chèo là món ăn tinh thần không thể thiếu. Tỉnh hiện có gần 100 câu lạc bộ dân ca và chèo. Nhiều câu lạc bộ chèo được duy trì qua các thế hệ và trở thành điểm sáng của phong trào văn nghệ quần chúng, tham gia các liên hoan toàn quốc giành được giải thưởng cao.
Kết quả khảo sát, kiểm kê thực trạng di sản nghệ thuật chèo tại tỉnh Phú Thọ cũng cho thấy những sự lạc quan, bởi hát chèo được thực hành, lan tỏa trên địa bàn của nhiều địa phương trong tỉnh. Những người thực hành hát chèo tại Phú Thọ là những người làm ruộng, lao động tự do, công nhân, công chức, cán bộ hưu trí… Họ tập hợp nhau lại tại các xã, phường để duy trì, gìn giữ và truyền dạy, biểu diễn hát chèo trong cộng đồng. Đáng chú ý, tỉnh Phú Thọ còn giữ được các làn điệu chèo cổ như: Đào liễu, Lới lơ, Luyện năm cung, Đường trường thu không, Đường trường bắn thước, Đường trường trong rừng, Quân tử vu dịch, Sa lệch chênh, Tứ quý, Sắp qua cầu, Tình thư hạ vị, Du xuân, Hát cách…
Bao năm qua, hàng nghìn câu lạc bộ tuồng, chèo, dân ca được thành lập và hoạt động bền bỉ trong các thôn, xóm, phường, xã bởi các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian tại các địa phương, đó là những người dân lao động với lòng yêu nghệ thuật truyền thống của cha ông để lại mà cùng nhau giữ gìn vốn cổ, truyền dạy cho thế hệ tiếp nối. Nghệ thuật chèo sẽ không bao giờ bị mất đi, luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân quê”, GS.TS Lê Thị Hoài Phương (Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia), khẳng định.
Cùng quan điểm, GS.TS Nguyễn Thị Hiền (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, “Chèo là một loại hình trình diễn dân gian, sân khấu dân gian luôn thích ứng với bối cảnh để tồn tại và phát triển, vì chèo là một phần không thể thiếu của đời sống văn hóa người Việt ở Bắc bộ. Nghệ thuật chèo hoàn toàn đủ điều kiện để ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.