Đưa nước sạch đạt chuẩn đến người dân ngoại thành

Kỳ 2: Hệ thống nhà máy nước mini nhiều bất cập, hạn chế
(HPĐT)- Giai đoạn 1998-2015, thành phố xây dựng và đưa vào hoạt động 161 nhà máy nước mini phục vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn. Đến nay, do ô nhiễm nguồn nước mặt, biến đổi khí hậu dẫn tới xâm nhập mặn; sự lạc hậu về công nghệ xử lý và xuống cấp về cơ sở vật chất, cũng như những vướng mắc trong quản lý, vận hành khiến chất lượng hoạt động của hệ thống các nhà máy nước này khó đáp ứng nhu cầu của người dân.
Không đáp ứng yêu cầu chất lượng nước
Qua nhiều năm vận hành, một bộ phận không nhỏ trong số 161 nhà máy mini ít được đầu tư, nâng cấp. Sự xuống cấp trong cơ sở hạ tầng và lạc hậu về công nghệ dẫn tới chất lượng nước sau xử lý không bảo đảm quy chuẩn nước sạch. Trước thực tế hoạt động kém hiệu quả, đến nay có tới 60 nhà máy nước mini dừng hoạt động. Còn lại 101 nhà máy được phân loại thành 3 nhóm chính gồm: 21 nhà máy nước hoạt động tốt (bền vững); 25 nhà máy nước hoạt động trung bình (tương đối bền vững) và 55 nhà máy hoạt động kém (trong đó có 15 nhà máy có chất lượng nước không bảo đảm theo quy chuẩn, phải thực hiện thay thế ngay).
Ông Nguyễn Thế Ban, Phó chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) thông tin: Trong số 55 nhà máy nước hoạt động kém nêu trên, các cơ quan chức năng vào cuộc và thống nhất phương án thay thế đối với 27 nhà máy. Do đó, khu vực nông thôn hiện đang được cấp nước sạch từ 84 nhà máy nước gồm: 10 nhà máy nước đô thị cấp bổ sung cho 50 xã; 74 nhà máy nước nông thôn cấp cho các xã còn lại. Trong đó, có 28 nhà máy có nguy cơ không bảo đảm chất lượng nước, chủ yếu cung cấp nước cho người dân trên địa bàn các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy với hơn 29,8 nghìn hộ, tương đương với 8,9% dân số nông thôn. Đây cũng chính là khu vực mà thời gian gần đây, người dân liên tục có ý kiến về chất lượng nước máy phục vụ sinh hoạt không bảo đảm chất lượng.
Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, tại Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 13-12-2023 của UBND thành phố triển khai các nội dung bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 16 về nước sạch nông thôn, UBND thành phố chỉ rõ: Một số nhà máy nước khai thác nguồn nước đầu vào từ các kênh thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiêu thoát nước mưa, nước thải, trong khi nguồn nước này bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, do thời điểm xây dựng từ cách đây rất lâu nên việc tính toán vị trí bố trí nhà máy nước chưa thực sự phù hợp, ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn nước đầu vào của nhà máy, dẫn tới sản phẩm đầu ra bị hạn chế về chất lượng.
Nhiều nhà máy khó nâng cấp
Trước thực tế chất lượng nước đầu ra của nhiều nhà máy nước mini không bảo đảm chất lượng, một trong những giải pháp được các ngành chức năng, địa phương đặt ra là nâng cấp để tăng công suất, cải tiến công nghệ xử lý nước của các nhà máy này. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế khó khả thi vì gặp nhiều vướng mắc.
Do quy mô công suất cấp nước, vùng phục vụ và lượng khách hàng sử dụng nhỏ, nguồn thu hạn chế, doanh nghiệp ít có điều kiện đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và cập nhật các công nghệ xử lý nước hiện đại. Theo kết quả rà soát của các ngành chức năng thành phố, trong số 21 nhà máy nước mini có kết quả hoạt động tốt, 20 nhà máy có hồ sơ thiết kế hệ thống xử lý nước, nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt. Trong nhóm 25 nhà máy nước có kết quả hoạt động trung bình, tương đối bền vững, mới chỉ có một số nhà máy áp dụng công nghệ lắng đứng, lắng lamela, thiết bị lọc tự rửa, thiết bị khử trùng trong xử lý và sản xuất nước sinh hoạt. Số còn lại có công nghệ lọc, xử lý nước cũ, hầu hết vẫn sử dụng bể lắng sau đó dẫn nước vào các bể lọc qua các lớp cát, sỏi, than hoạt tính và sục clo để khử trùng, dẫn tới chất lượng nước sau xử lý chưa đạt yêu cầu. Trong nhóm 55 nhà máy hoạt động kém bền vững, có 15 nhà máy cần thực hiện ngay việc thay thế do chất lượng nước không bảo đảm tiêu chuẩn nước sạch phục vụ sinh hoạt. Cũng trong nhóm này, mới chỉ có 7 nhà máy hoàn thành việc lắp đặt hệ thống phân phối nước thay thế để nâng cao chất lượng nước cung cấp.
Công nghệ lạc hậu, nhân lực vận hành các nhà máy nước này cũng èo uột. Phó chủ tịch UBND xã Tây Hưng (huyện Tiên Lãng) Lương Văn Muộn phản ánh, số nhân sự vận hành thường xuyên hệ thống sản xuất nước sinh hoạt của Công ty TNHH cấp nước Tây Hưng cung cấp nước cho người dân tại địa phương và một phần các xã Đông Hưng, Nam Hưng cùng huyện vẻn vẹn có 2 người. Chỉ khi nào đường ống hỏng hoặc xảy ra sự cố, doanh nghiệp mới thuê thêm công nhân thời vụ để sửa chữa, xử lý. Hay như Công ty TNHH 2 thành viên đầu tư và thương mại Trần Duy- doanh nghiệp vận hành nhà máy nước mini thôn Đại Hoàng, xã Tân Dân (huyện An Lão)- hiện chỉ có 3 nhân sự, gồm 1 công nhân vận hành đường ống, 1 người thu tiền và 1 người quản lý chung.
Tại phụ lục 4, số thứ tự 102 của Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17-6- 2020 của Chính phủ, kinh doanh nước sạch (nước sinh hoạt) được xác định là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo Phó Tổng giám đốc Công ty CP Cấp nước Hải Phòng Trịnh Anh Tuấn, với đặc thù của ngành cấp nước, bên cạnh việc bảo đảm chất lượng nguồn nước đầu ra cung cấp tới khách hàng, doanh nghiệp kinh doanh nước sạch cần có bộ phận chuyên môn để kiểm tra, duy tu, bảo dưỡng hệ thống đường ống cấp nước, thực hiện thau rửa thường xuyên, kịp thời phát hiện rò rỉ để bảo đảm chất lượng nước cấp và hạn chế tối đa thất thoát trong quá trình vận hành. Vì thế, thực trạng nhân lực ít ỏi, trang thiết bị sơ sài tại các nhà máy nước mini chính là những rào cản, thách thức khiến việc nâng cấp các nhà máy này gặp nhiều khó khăn.
Kỳ 3: Kịp thời chuyển đổi đơn vị cấp nước