Tham gia ý kiến dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi)
Đại biểu Lã Thanh Tân
1. Từ thực tế của địa phương, tôi đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định một số nội dung sau để địa phương có thể dễ dàng triển khai thực hiện:
(1) Về giải thích từ ngữ: đề nghị bổ sung khái niệm “bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới”.
(2) Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định hỗ trợ đầu tư cho một số đối tượng đầu tư công sau:
- Đầu tư và hỗ trợ hoạt động đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội.
- Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư.
- Đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
- Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
(3) Một số nội dung liên quan đến kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm vốn từ nguồn thu hợp pháp của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư:
- Điều kiện đưa các chương trình, nhiệm vụ, dự án đầu tư công vào kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm.
- Thời gian thực hiện việc phê duyệt, giao kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm.
(4) Quy trình, thủ tục thực hiện đối với Dự án thành phần thuộc Chương trình đầu tư công sau bước quyết định đầu tư Chương trình đầu tư công.
2. Tại điểm c khoản 1 Điều 47 quy định:
“1. Việc điều chỉnh chương trình được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
c) Do nguyên nhân bất khả kháng làm thay đổi về mục tiêu, phạm vi, chi phí và thời gian thực hiện chương trình.”
Đề nghị quy định cụ thể việc thay đổi “chi phí” thực hiện chương trình là các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư các dự án thành phần, hay tổng mức đầu tư của các dự án thành phần hay tổng mức vốn đầu tư chương trình.
12. Tại điểm c khoản 2 Điều 47 quy định:
“2. Việc điều chỉnh dự án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
c) Do nguyên nhân bất khả kháng làm thay đổi về mục tiêu, quy mô đầu tư, chi phí và thời gian thực hiện dự án;…”
Tại bước thiết kế bản vẽ thi công, cơ cấu các chi phí trong tổng mức đầu tư thay đổi so với bước thiết kế cơ sở. Việc điều chỉnh dự toán xây dựng công trình không vượt tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 5 Điều 15 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng là thuộc thẩm quyền chủ đầu tư.
Do vậy, đề nghị bổ sung nội dung quy định về khái niệm thay đổi “chi phí” của dự án là thay đổi tổng mức đầu tư hay thay đổi các khoản mục chi phí trong cơ cấu tổng mức đầu tư và đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành.
3. Tại Điều 56 quy định về điều kiện để chương trình, dự án, nhiệm vụ, đối tượng đầu tư công khác được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn. Tuy nhiên, còn thiếu quy định về điều kiện đưa 02 nhiệm vụ sau vào kế hoạch đầu tư công trung hạn: (i) Bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; (ii) Các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Luật này. Đề nghị bổ sung.
4. Tại Điều 57 quy định về điều kiện để chương trình, dự án, nhiệm vụ, đối tượng đầu tư công khác được bố trí vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm:
- Đề nghị bổ sung điều kiện để bố trí vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm cho 02 nhiệm vụ sau: (1) Bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; (2) Các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Luật này.
- Riêng đối với khoản 2 Điều này: “2. Chương trình, dự án, đối tượng đầu tư khác đã được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc các thủ tục theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Đề nghị làm rõ nội dung về “các thủ tục theo quy định của pháp luật có liên quan” để địa phương có căn cứ xác định về việc thủ tục của chương trình, dự án, đối tượng đầu tư khác có hay không đủ điều kiện bố trí vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm.
5. Tại khoản 1 Điều 59 quy định: “Vốn thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư được bố trí để lập Đề xuất chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài; lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.”
Nội dung trên chưa bao gồm hoạt động điều chỉnh Đề xuất chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án; điều chỉnh quyết định đầu tư dự án. Do đó, đề nghị sửa thành: “Vốn thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư được bố trí để lập Đề xuất hoặc điều chỉnh Đề xuất chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài; lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư hoặc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án hoặc điều chỉnh dự án.”
6. Tại điểm d, khoản 8 Điều 60 quy định: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân các cấp ban hành nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn, Ủy ban nhân dân cùng cấp giao kế hoạch đầu tư công trung hạn cho các đơn vị thực hiện, bao gồm tổng mức vốn, danh mục chương trình, dự án và mức vốn bố trí cho từng dự án.”
Để tăng tính phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động cho cấp chính quyền địa phương cấp dưới trong việc giao kế hoạch đầu tư công trung hạn do cấp mình quản lý, đề nghị sửa đổi, bổ sung thành: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân các cấp ban hành nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn, Ủy ban nhân dân cùng cấp giao kế hoạch đầu tư công trung hạn cho các đơn vị thực hiện, bao gồm tổng mức vốn, danh mục chương trình, dự án, mức vốn bố trí cho từng dự án và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.”
7. Tại điểm a, b khoản 7 Điều 61 quy định:
“a) Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án.
b) Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án.”
Để tăng tính phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động trong việc giao kế hoạch đầu tư công hằng năm, đề nghị sửa đổi, bổ sung thành:
“a) Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục, mức vốn bố trí cho từng dự án, mức vốn cho nhiệm vụ quy hoạch, tổng số vốn cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đối tượng đầu tư công khác sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.
b) Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục, mức vốn bố trí cho từng dự án, mức vốn cho nhiệm vụ quy hoạch, tổng số vốn cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đối tượng đầu tư công khác sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.”
8. Tại điểm c khoản 7 Điều 61 quy định: “Trước ngày 31 tháng 12 hằng năm, Ủy ban nhân dân các cấp giao kế hoạch đầu tư công năm sau cho các đơn vị thực hiện.”
Để đảm bảo phù hợp với đề xuất tại mục 16 nêu trên, đề nghị sửa đổi, bổ sung thành: “c) Trước ngày 31 tháng 12 hằng năm, Ủy ban nhân dân các cấp giao kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình, bao gồm danh mục, mức vốn bố trí cho từng dự án, và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới cho các đơn vị thực hiện.”.
9. Tại các khoản 1 và 2 Điều 64 quy định:
“1. Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vốn từ nguồn thu hợp pháp dành để đầu tư phải lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm trình Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp quản lý.
2. Các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn hằng năm, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch hằng năm nguồn vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư phù hợp với khả năng thực tế cho đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật có liên quan.”
- Theo quy định nêu trên, các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vốn từ nguồn thu hợp pháp dành để đầu tư lập kế hoạch đầu tư trung hạn trình Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp quản lý. Tuy nhiên, đối với việc thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn hằng năm, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch hằng năm nguồn vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp.
Như vậy, kế hoạch đầu tư hằng năm do Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp quyết định lại căn cứ vào kế hoạch đầu tư trung hạn do các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quyết định là chưa hợp lý.
- Ngoài ra, đối với các đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên có Hội đồng quản lý hoặc Hội đồng trường, Hội đồng Đại học, việc thẩm định cơ cấu nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, khả năng trả nợ đối với các dự án có sử dụng nguồn vốn vay đều do Hội đồng quản lý, Hội đồng trường, Hội đồng Đại học chịu trách nhiệm. Đồng thời, việc quyết định chủ trương đầu tư, quyết định trung hạn thuộc thẩm quyền của đơn vị; không có sự tham gia của các cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công, cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về tài chính. Theo đó, việc phê duyệt, giao kế hoạch vốn hằng năm, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch hằng năm lại thuộc trách nhiệm của Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp là chưa hợp lý.
- Từ các nội dung trên, đề nghị nghiên cứu, xem xét lại thẩm quyền quyết định phê duyệt, giao kế hoạch vốn hằng năm, phê duyệt điều chỉnh kế hoạch hằng năm vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cho phù hợp, thống nhất, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
10. Tại khoản 3 Điều 92 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp: “Quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm của địa phương, bao gồm toàn bộ danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương.”
Để phù hợp các quy định tại Điều 6 và Điều 61 dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi), đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 92 thành: “Quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm của địa phương, bao gồm toàn bộ danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án, mức vốn cho nhiệm vụ quy hoạch, tổng số vốn cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đối tượng đầu tư công khác sử dụng vốn ngân sách địa phương và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.”.
11. Tại điểm c khoản 2 Điều 93 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: “c) Xem xét, quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm theo danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án do địa phương quản lý.”
Để phù hợp các quy định tại Điều 60 và Điều 61 dự thảo Luật, đề nghị sửa đổi, bổ sung thành: “c) Xem xét, quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm theo danh mục, mức vốn bố trí cho từng dự án, mức vốn cho nhiệm vụ quy hoạch, tổng số vốn cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đối tượng đầu tư công khác sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.”./.
Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng