Bên kia sông có một vườn đào
(HPĐT)- Tết đến rồi. Đã là Tết thì sẽ có hoa đào. Mà trong câu chuyện nhà văn Nguyễn Đình Tú kể lại với bạn đọc có cả một vườn đào bên kia sông. Vườn đào kết tinh tâm huyết của một người con làng nghề truyền thống trồng đào ở đất Cảng. Trong từng câu thoại, từng lời thuật tả của nhân vật “tôi” là hình ảnh không gian thành phố, sự chuyển mình của Hải Phòng qua từng giai đoạn thời gian. Điều đặc biệt là những người con của Hải Phòng trung dũng, kiên cường, sau khi cống hiến tâm sức và máu xương trong các cuộc kháng chiến lại trở về xây dựng và phát triển quê hương mình. Để mỗi ngày trôi qua, mỗi năm trở lại, quê hương càng đổi thay với những bức tranh Xuân sắc tựa vườn đào mỗi Tết về lại hồng rực để làm đẹp muôn nơi.
BÁO HẢI PHÒNG

Nếu tôi nhớ không nhầm, đó là buổi chiều ngày hai mươi tám Tết của ba mươi tư năm về trước.
Hôm ấy tôi đang cùng anh trai lúi húi quét dọn ở phía sau nhà thì nghe thấy tiếng mẹ gọi. Tôi vội chạy lên để cùng mẹ “đón đào vào nhà”. Mấy hôm trước mẹ tôi bảo, năm nay sẽ đặt mua đào của một chú thương binh ở “bên kia sông”. Bây giờ thì chú thương binh ấy đang đứng trước mặt tôi. Một người đàn ông bịt kín từ đầu đến chân. Sùm sụp trên đầu là chiếc mũ vải rộng vành có lớp lót dày che mặt. Trên người là bộ quân phục cũ. Hai tay xỏ đôi găng tay may bằng vải thô. Dưới chân là đôi giày ba ta sờn rách. Duy nhất còn hở ra hai con mắt trông có vẻ hiền lành và ấm áp. Trong lúc chú ấy giữ ghi đông thì tôi và mẹ xúm lại đỡ cây đào từ sau yên xe đạp. Đó là một cây đào phai, gộc đất khá to, cành lá phía trên được bó lại bằng những vòng dây thép. “Đào bên sông đấy, đánh từ vườn nhà chú ấy luôn, cây khỏe, hoa bền”. Mẹ tôi nói vậy rồi vội vàng chạy đi tìm chiếc chậu sứ để nhờ chú bán cây đặt giúp vào cho. Chân chú ấy tập tễnh, đi lại không được bình thường nhưng các động tác lại rất nhanh nhẹn, dứt khoát. Đặt cây đào vào chậu xong, chú lấy đất mang theo đổ vào phần gốc, rồi lấy tay chèn kín chung quanh. Sau đó chú bảo mẹ tôi tưới lên đó một ít nước cho “bén rễ”. Mẹ tôi tưới nước xong, lại hì hụi ra sau nhà lấy ít sỏi trắng cất từ năm ngoái, rải quanh dưới gốc đào.
Tôi gỡ những sợi dây thép buộc phía trên, lập tức các cành đào được bung thoải mái, khoe dáng tự nhiên, lúp xúp có đủ cả hoa, lá, nụ, và lộc. “Nụ trổ thế này là vừa, đúng ba ngày Tết sẽ ra hoa rất đẹp”, chú thương binh giới thiệu thêm về cây đào. Nghe giọng nói thì có vẻ còn trẻ. Đến khi hỏi tuổi, hai mẹ con tôi đều ngỡ ngàng khi biết chú bán đào chỉ hơn tôi có… vài tuổi.
Sau khi biết tuổi tác rồi, mọi người liền đổi lại cách xưng hô. “Chú” thương binh chuyển sang gọi mẹ tôi bằng cô, còn tôi gọi chú là anh. Bố tôi mất sớm, cứ vào cữ tháng Chạp hằng năm là mẹ tôi lại tất bật về quê lo chuyện mồ mả nội ngoại đôi bên. Sau đó, từ quãng rằm đến hôm ông Công ông Táo lên trời là mẹ tôi xăng xái chợ trên chợ dưới lo chuyện sắm Tết. Một tay mẹ tôi quán xuyến cả, mãi sau này, anh trai tôi lấy vợ, mẹ mới có chị dâu tôi đỡ đần thêm.
Nhà tôi ở thị xã Kiến An, còn nhà anh thương binh bán đào ở bên huyện An Hải. Từ nhà tôi sang nhà anh phải đi qua một cây cầu treo vắt qua con sông lớn. Chúng tôi quen gọi những người như anh là “người ở bên kia sông”. Sau lần gặp đầu tiên đó, một hôm, tôi đang ngồi đọc sách ở thư viện thị xã Kiến An thì thấy anh tập tễnh bước vào. Tôi chuẩn bị thi đại học nên thường lên thư viện đọc thêm một số sách về văn học. Còn anh đạp xe từ bên kia sông sang để trả sách cũ và mượn sách mới. “Bên anh không có thư viện, anh làm thẻ bên này để hàng tuần sang mượn sách về đọc”, anh nói với tôi vậy. Rồi anh hỏi tôi thi khối gì? Tôi bảo thi khối D. Anh lại hỏi tôi thi trường gì? Tôi bảo thi Trường đại học Ngoại giao. Anh khẽ nhíu mày rồi hỏi tôi học yếu nhất môn gì? Tôi bảo hai môn Toán và tiếng Nga tôi học khá, chỉ sợ nhất môn Văn. Anh thấy tôi cầm cuốn “Bộ đề thi tuyển sinh đại học môn Văn” liền bảo, em thấy đề nào khó nhất, để anh mang về làm thử, tuần sau anh mang qua cho em xem cách làm bài thi đại học là như thế nào.
Hôm ấy tôi và anh ra ngồi trên chiếc ghế đá dưới gốc phượng ngoài sân thư viện nói chuyện khá lâu. Những năm đó đại học chưa phổ cập như bây giờ. Phải học giỏi và tự tin lắm mới dám gửi hồ sơ đăng ký thi đại học. Ngay như lớp tôi là một lớp chọn của Trường cấp ba Kiến An cũng chỉ có bốn bạn làm hồ sơ thi đại học. Đề thi văn thời đó thường mang tính “bắt bí”, hay hỏi những câu ngoài chương trình học phổ thông. Vì thế muốn đỗ đại học, hầu hết mọi người đều phải ôn luyện vô cùng vất vả. Có người thi đi thi lại, vài năm mới đỗ. Tôi khi đó là một cậu bé rụt rè, nhút nhát, chưa một lần bước chân sang “bên kia sông”, chẳng mấy khi đi đâu ra khỏi nhà. Mặc dù ở lớp tôi được coi là học sinh giỏi, chính cô giáo chủ nhiệm động viên tôi đăng ký thi đại học, nhưng tôi vẫn cảm thấy rất tự ti, yếm thế. Nay có người bắt chuyện, hỏi han, lại chủ động chia sẻ về kinh nghiệm thi cử đại học, tôi quan tâm và háo hức lắm. Những điều anh nói, tôi nghe như nuốt lấy từng lời. Anh còn kể với tôi rằng, năm đó anh thi trượt đại học vì đề thi yêu cầu bình luận một khổ thơ có bốn câu: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em vẫn là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơ ngát cánh hoa thơm…”. Môn Văn của chương trình phổ thông ngày đó không có bài thơ Núi đôi của Vũ Cao, phần đông học sinh đều không biết đến bài thơ này. Không biết thì… bịa. Thế là các thí sinh bình tán theo kiểu suy diễn, rằng “em vẫn là hoa trên đỉnh núi” là người con gái vẫn đang sống, lao động và chiến đấu ở quê nhà. Với tình yêu sắt son, chung thủy, cô gái vẫn luôn chờ đợi người yêu “đi bộ đội” trở về, mối tình của họ sẽ “ngát cánh hoa thơm”, tức là sẽ đơm hoa kết trái, trọn nghĩa, vẹn tình… Sự thực thì người con gái trong bài thơ là một nữ du kích đã hy sinh, mộ cô nằm trên đỉnh núi, bốn mùa nở hoa. Kết quả là rất nhiều thí sinh đã bị điểm liệt môn Văn, trong đó có anh.
Càng nghe anh kể chuyện, tôi càng nhận ra anh rất trẻ trung, thân thiện, như một người anh học trên tôi một, hai lớp mà thôi. Thậm chí tôi còn phát hiện ra, khi nói về tình yêu anh cố tỏ ra từng trải nhưng không giấu được… đỏ mặt. Bỏ chiếc mũ vải rộng vành và bộ quân phục cũ sờn, trông anh không giống chút nào với các “chú thương binh” mà tôi thường thấy trên sách báo. Đúng là anh còn rất trẻ. Mỗi lần gặp anh, nhìn kỹ khuôn mặt, ánh mắt, làn da, cử chỉ, giọng nói của anh, tôi thấy anh giống một người bạn đang cùng luyện thi đại học với tôi hơn là một người anh đã từng trải những năm tháng quân ngũ vô cùng ác liệt.
Anh kể với tôi rằng anh từng mơ ước trở thành một thầy giáo dạy Văn. Nhưng sau khi thi đại học sư phạm không đỗ, anh đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Đơn vị của anh được lệnh qua Campuchia chiến đấu để giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi họa diệt chủng. Anh bị thương trong một trận phục kích của địch. Và anh đã trở thành thương binh, bị mất một bên chân, nhiều mảnh đạn vẫn nằm trong cơ thể. Sau những tháng ngày điều trị ở quân y viện, cuối năm vừa rồi anh mới xin trở về với gia đình. Anh rất muốn học tiếp. Vẫn chưa nguôi quên ước mơ được làm thầy giáo dạy Văn…
“Hay anh làm hồ sơ thi lại đại học?”, tôi nói với anh. Anh lắc đầu. Nhà nghèo, bố mất sớm, mẹ già yếu, các em thơ dại, bản thân thì mang đầy thương tích, anh phải dừng việc học lại để làm kinh tế nuôi sống gia đình. “Làng anh là làng đào. Nhà anh có một vườn đào rất rộng. Hôm nào em sang nhà anh chơi nhé”.
Tôi cũng chưa biết một vườn đào thì sẽ rộng ra sao? Nở hoa đẹp như thế nào? Tuổi thơ của tôi vốn quen với những cái Tết nghèo. Đã nghèo thì hoa là thứ xa xỉ. Có được vài bông lay ơn, mấy bông đồng tiền, dăm cành violet, đã là sang rồi, thêm cành đào be bé, cắm trong một cái bình sứt sẹo nữa, thì hẳn phải là “nhà có điều kiện”. Gần đây đời sống sung túc hơn, mẹ tôi và nhiều gia đình khác đã mua được cả cây đào trưng trong nhà. Trước nay tôi luôn nghĩ đào chỉ có ở trên rừng. Người ta vào rừng bẻ đào rồi mang về xuôi bán cho các nhà chơi Tết. Sau này, thấy có thêm nhiều cây đào với các loại gốc to nhỏ khác nhau, tôi vẫn không hiểu sao lại có thể chuyển được những cây đào to như thế ở trên rừng về? Bây giờ nghe anh nói tôi mới biết, hóa ra ngay bên kia sông thôi có cả một làng đào từng tồn tại hàng trăm năm nay. Các chủ vườn sẽ chọn những giống đào nhiều cành, lắm nụ, sắc hoa tươi thắm, rồi bỏ công uốn gốc, nắn ngọn, tạo thế cho cây, chờ dịp Tết thì đem bán. “Em cứ đạp xe qua cầu, đến gần thị trấn Rế, thấy một ngôi trường cấp ba thì rẽ phải, tới làng đào Hải An, hỏi nhà anh Tuấn, ai cũng biết, vườn đào nhà anh to nhất làng…”.
Mấy lần tôi định đạp xe sang nhà anh chơi, nhưng mẹ tôi bảo, vườn đào chỉ đẹp vào dịp Tết, còn bình thường trông như một khu đất hoang, cây cối ngổn ngang, đất đai xáo trộn, phân gio rơm rạ bừa phứa, có gì đâu mà ngắm? Với lại chúng tôi vẫn gặp nhau thường xuyên. Tuần nào anh cũng sang thư viện thị xã. Anh lần lượt làm những đề Văn khó cho tôi tham khảo. Chữ anh viết tay rất đẹp. Trình bày cũng rất thưa thoáng, dễ đọc. Anh bảo, bài thi đại học quan trọng nhất là trình bày các ý một cách mạch lạc, nhiều ý thì được nhiều điểm, tránh sa vào kể lể dông dài. Anh như một người thầy kèm cặp thêm cho tôi về môn Văn.
Cứ thế, cho đến ngày tôi thi đỗ rồi lên Hà Nội học đại học, tôi vẫn chưa sang nhà anh chơi lần nào. Buổi chiều trước hôm tôi lên Thủ đô nhập học, anh đạp xe qua nhà chở tôi lên hồ Hạnh Phúc ngồi uống nước dừa. Vẫn là chiếc xe đạp cũ mà anh thường đạp sang mượn sách ở thư viện. Cũng chính là chiếc xe anh chở đào đi bán vào dịp Tết. Lần này chở tôi, anh bảo, yên tâm, dù anh phải đạp bằng một chân giả nhưng không làm em ngã đâu mà sợ. Bờ hồ hôm ấy bắt đầu có những cơn gió thu thổi đến, mặt hồ lao xao sóng nước, không khí rất dễ chịu. Anh bảo, anh đã đi nhiều nơi, đến nhiều vùng đất khác nhau, nhưng không thấy ở đâu đẹp bằng thị xã Kiến An. Một vẻ đẹp sơn thủy hữu tình, bàng bạc nhưng sâu lắng. Một bên là núi Thiên Văn thông reo vi vu, một bên là dòng sông Văn Úc nước chảy lững lờ. Ở giữa là một thị xã mang phong cách kiến trúc Pháp với đôi ba dãy phố yên tĩnh, trầm mặc, ôm ấp trong nó một mặt hồ phẳng lặng với những hàng liễu rủ thanh tao lãng mạn... Anh còn bảo, em như một chú chim đang khát khao bầu trời rộng lớn, cứ tung cánh bay đi, rồi sau này thử ngẫm xem những điều anh nói có đúng không nhé!
Khoảnh khắc ấy tôi không để tâm lắm đến những điều anh nói. Chỉ hẹn với anh là sau khi lên trường, tôi sẽ thường xuyên viết thư cho anh. Trước khi chia tay anh tặng tôi một cuốn sổ nhỏ, bên trong chép rất nhiều những câu danh ngôn của các danh nhân thế giới do chính tay anh viết.
Vào đại học tôi và anh thỉnh thoảng có gửi thư cho nhau. Hết giai đoạn một, tôi nằm trong số những sinh viên được sang Nga học theo chương trình hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước. Trước khi đi du học, tôi về nhà một tuần để làm thủ tục. Tôi tranh thủ sang thăm anh, đồng thời báo cho anh biết tôi sắp được đi học nước ngoài. Hôm ấy là đầu tháng Chạp. Đào đã bắt đầu vào vụ Tết. Nhớ lời anh dặn, tôi tìm đến làng đào Hải An, rồi được Tết đến rồi. Đã là Tết thì sẽ có hoa đào. Mà trong câu chuyện nhà văn Nguyễn Đình Tú kể lại với bạn đọc có cả một vườn đào bên kia sông. Vườn đào kết tinh tâm huyết của một người con làng nghề truyền thống trồng đào ở đất Cảng. Trong từng câu thoại, từng lời thuật tả của nhân vật “tôi” là hình ảnh không gian thành phố, sự chuyển mình của Hải Phòng qua từng giai đoạn thời gian. Điều đặc biệt là những người con của Hải Phòng trung dũng, kiên cường, sau khi cống hiến tâm sức và máu xương trong các cuộc kháng chiến lại trở về xây dựng và phát triển quê hương mình. Để mỗi ngày trôi qua, mỗi năm trở lại, quê hương càng đổi thay với những bức tranh Xuân sắc tựa vườn đào mỗi Tết về lại hồng rực để làm đẹp muôn nơi. BÁO HẢI PHÒNG Bên kia sông có một vườn đào Xuân Ất Tỵ 2025 37 người làng chỉ vào nhà anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy cả gia đình anh vẫn ở trong một căn nhà đất ba gian hai chái. Một mình anh ở riêng một chái, nơi đầu hồi phía trong, giáp một cái ao rộng. Căn buồng anh ở ẩm thấp, xập xệ, sách nhét đầy khe tường, nhưng vẫn tận dụng kê thêm hai hàng ghế tự làm từ thân cây nhãn. Khi tôi bước vào sân, anh đang dạy học trong căn buồng thiếu sáng đó. Có khoảng bảy, tám học sinh, cả nam lẫn nữ, chúng ngồi trên ghế và đặt vở lên đùi, lên bao thóc, lên chính chiếc giường đơn của anh, hoặc kê lên lưng bạn ngồi đằng trước, để viết. Thấy tôi đến anh cho các em tan học. Anh bảo, lúc đầu chỉ kèm thi đại học môn Văn cho một, hai đứa thôi, sau chúng nó cứ xin đến ngồi nghe, từ chối thế nào cũng không được. Thấy tôi cứ ngơ ngác nhìn quanh, anh hỏi: “Em tìm gì?”. Tôi bảo: “Vườn đào nhà anh đâu?”. Anh cười rồi tập tễnh dẫn tôi ra cổng. Rẽ trái, rẽ phải, rồi lại rẽ phải, rẽ trái, một hồi lâu sau anh mới đưa tôi ra tới bờ sông. Ở đó có những vườn đào xen kẽ với các thửa ruộng trồng hoa khác như hoa thược dược, hoa lay ơn, hoa violet, hoa hồng, hoa cẩm chướng… Lác đác đã có khách đến xem đào. Đúng là vườn nhà anh to nhất ở khu vực bãi sông này. Hai người em trai của anh đang lúi húi làm việc bên những gốc đào. Có một nhóm khách đang xúm lại chỗ mấy cây đào lâu năm. Anh đưa tay khoát một vòng rồi bảo, từ nay đến ba mươi Tết là các gốc đào này sẽ được đánh ra khỏi vườn. Tôi đưa mắt nhìn quanh. Dễ đến cả trăm cây đào. Được chia thành từng luống. Mỗi luống sẽ có tuổi đào khác nhau. Một năm, ba năm, dăm năm, lại có những gốc hai, ba chục năm tuổi, được để riêng ở góc vườn. Nhìn chung những luống tầm ba năm tuổi là vừa mắt và dễ bán nhất. Các cây đều được tạo thế với đủ các loại dáng trực, dáng xiêu, dáng hoành, dáng huyền, mỗi gốc cách nhau chừng một mét, chiều cao bằng chằn chặn như nhau, đứng chọn một lúc thấy cây nào cũng giống cây nào. Thỉnh thoảng thấy có cây được thắt một sợi vải đỏ ở trên cành. Anh bảo đó là những cây đánh dấu đã bán. “Cây của nhà em đây này” - Anh chỉ vào một cây đào và nói - “Nhưng chiều hai tám anh mới chở sang cho mẹ em”. Tôi hỏi: “Sao đào ở đây không đỏ như bích đào ở làng Nhật Tân trên Hà Nội nhỉ?”. Anh bảo, đất ở đây chỉ hợp với loại đào này, sắc hoa không nhạt như đào phai, cũng không đỏ hẳn như đào bích, hoa thắm như son môi thiếu nữ, càng gặp gió Đông về càng rực lên, đây là giống đào riêng của làng anh.
Hôm ấy anh kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện về đào. Anh bảo, cái năm đầu tiên ăn Tết ở Campuchia anh “thèm” đào kinh khủng. Đêm giao thừa cả đại đội anh lập chung một bàn thờ Tổ quốc để mọi người quây quần cùng đón Tết. Có ảnh Bác Hồ và cờ đỏ sao vàng. Cỗ đặt lên có rất nhiều món ăn truyền thống. Bánh chưng, bánh tét, gà luộc, cá rán, giò thủ, giò lụa, nem rán, canh bóng, nộm xu hào, xôi đỗ xanh… Có món do bộ đội làm, có món do bà con các phum sóc gần đấy mang đến tặng đơn vị. Hoa quả cũng rất nhiều. Mùi hương trầm được đốt lên làm nhiều người nhớ nhà quay quắt. Tuy nhiên, gần đến giờ giao thừa anh vẫn cảm thấy có điều gì đó thiêu thiếu. Nhìn cành hoa đại (bên đó gọi là hoa chăm pa) chi chít nụ cắm trong chiếc xô đặt cạnh bàn thờ, anh mới chợt nhớ ra là thiếu một cành đào. Không có đào thì chưa ra không khí Tết. Dù những người lính đã cố hết sức để có một cái Tết đủ đầy hiện diện ở đây nhưng vẫn cứ có điều gì đó chưa trọn vẹn. Như mùa hè thiếu nắng, như rừng xanh thiếu cây, như biển cả thiếu sóng vậy. Mấy ngày Tết sau đó, cứ mỗi khi nghĩ đến hoa đào là các thức cỗ đưa lên miệng lại không còn cảm thấy ngon nữa. Anh tự nhủ, sau này khi ra quân, trở về quê nhất định anh sẽ trồng đào. Làng anh là làng đào. Khi còn sống bố anh là người rất hiểu về đào. Anh vốn được thừa hưởng kinh nghiệm trồng và chăm sóc đào từ bố. Mặc dù làng anh bỏ đào đã lâu nhưng đào là quốc hồn quốc túy, người Việt không thể không có hoa đào trong mấy ngày Tết cổ truyền.
Rời quân ngũ về quê, với tư cách một thương binh “tàn nhưng không phế”, anh xin chính quyền xã cho thầu khu bãi bồi ven sông để trồng đào. Người làng cũng theo anh khôi phục lại nghề trồng đào. “Nhờ đào mà anh góp đủ tiền rồi, sang năm anh sẽ xây lại nhà mới cho mẹ và các em anh ở, căn nhà đất từ thời ông nội anh để lại cũ nát quá rồi”. Anh còn bảo, khi nào xây nhà mới anh sẽ dựng một mái hiên ở cạnh bờ ao để ngồi đọc sách. Anh cũng kê luôn ở đó vài bộ bàn ghế, các cháu học sinh trong làng đến kỳ thi đại học, muốn ôn luyện thêm môn Văn, qua anh phụ đạo miễn phí.
Chiều muộn, anh giữ tôi ở lại ăn cơm nhưng tôi có hẹn với mấy người bạn nên không ở lại với anh được. Sau lần gặp đó ít lâu thì tôi sang Nga học. Tốt nghiệp đại học, tôi lại học tiếp lên cao học, rồi làm nghiên cứu sinh. Biền biệt 9 năm trời ở xứ người. Về nước, tôi được điều vào phía Nam công tác. Thời gian cứ trôi qua vùn vụt. Tôi lấy vợ, sinh con, có một chức vụ nho nhỏ ở một viện nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng tôi mới về Hải Phòng thăm người thân. Mẹ tôi mất khi tôi còn đang học ở nước ngoài. Kiến An bây giờ chỉ còn vợ chồng người anh trai sống trong căn nhà bố mẹ tôi để lại. Mỗi lần về quê tôi lại thấy thành phố thay đổi chóng mặt. Vùng đất “bên kia sông” bây giờ có đường cao tốc chạy qua, có nhiều khu đô thị hiện đại mọc lên, có cả quận mới được thành lập từ một phần địa giới của huyện cũ.
Chỉ không biết nhà anh Tuấn bây giờ thế nào? Và vườn đào mà tôi từng ghé thăm vào chiều đông năm ấy có thay đổi gì không?
Năm nay, vợ con tôi đều ở nước ngoài, còn lại một mình nên tôi quyết định về Hải Phòng ăn Tết. Tôi rất muốn lang thang ra chợ tự tay sắm Tết để tìm lại những cảm giác xưa cũ của một người con xa quê lâu ngày, nhưng chị dâu tôi bảo, “Chị đặt cả rồi, toàn đồ tươi, sống, xanh, sạch, mang ở dưới quê lên, ăn đến ra Giêng cũng chửa hết, chú không phải mua gì cả”. Chiều hai tám thì xe bán tải chở đào tới trước cửa nhà. Cậu lái xe từ trên cabin nhảy xuống, dùng xe đẩy, đưa chậu cây vào nhà. Cây đào rất đẹp, trồng sẵn trong chậu gốm, tán rộng, thân cành uốn tỉa cầu kỳ, thế chân phương nhưng uy nghi, cổ thụ. Nhìn cậu lái xe đội chiếc mũ vải rộng vành, tôi bỗng hỏi:
- Đào này có phải đào Hải An không? Cậu lái xe gật đầu:
- Vâng, đào vườn nhà cháu đấy, năm nào cháu cũng mang sang cho cô chú bên này một cây đẹp nhất nhì trong vườn. Chị dâu nghe tôi hỏi vậy, liền bảo: “Đào vườn là anh Tuấn ở bên kia sông đấy”. Tôi giật mình nhìn kỹ khuôn mặt cậu lái xe:
- Vậy cháu là…? - Cháu là Tình, cháu làm giáo viên dạy Văn ở trường cấp ba Hải An, nhà có nghề trồng đào nên Tết nào cháu cũng tranh thủ đi giao đào cho mọi người ạ…
Không, tôi đâu có ý định hỏi về nghề nghiệp của cậu lái xe! Tôi muốn hỏi về người đàn ông tên Tuấn mà chị dâu tôi vừa nhắc đến. Nhìn cái cách chụp chiếc mũ vải rộng vành trên đầu kia, tự nhiên tôi thấy cậu ấy giống anh Tuấn quá. Lẽ nào…? Đoán độ tuổi thì đúng là cậu ta đáng tuổi con anh Tuấn thật.
Chẳng lẽ…?
Hôm sau, chị dâu sai thằng con trai lớn đánh ô tô chở tôi sang nhà anh Tuấn. Không còn một chút bóng dáng gì của căn nhà tường đất mái tranh năm xưa nữa. Thay vào đó là ngôi nhà ba tầng khang trang với khoảng sân rộng. Chiếc ao vẫn còn, ở giữa thả hoa súng, chung quanh xây kè đá. Ở một góc bờ ao có một tòa bát giác bằng gỗ, ba mặt đều có lan can, cửa chính buông một lớp mành trai nhiều màu. “Chòi đọc sách đó xây từ thời bác Tuấn cháu còn sống, trong đó bây giờ vẫn còn giữ rất nhiều sách của bác ấy”, Tình giới thiệu. Tình là con trai người em kế của anh Tuấn.
Hóa ra anh Tuấn mất đã lâu lắm rồi. Thảo nào, khi còn ở bên Nga, trong một lần vô tình đọc được bài tùy bút về đào của anh đăng trên Báo Hải Phòng, tôi có viết thư cho anh nhưng không thấy anh trả lời. “Bác cháu đột nhiên yếu đi vào mấy tháng cuối. Khi đưa bác cháu tới bệnh viện, các bác sĩ bảo lục phủ ngũ tạng của bác cháu nát hết rồi…”, Tình nói khi dẫn tôi vào chiếc chòi đọc sách của anh Tuấn. Trên một kệ sách nhỏ, tôi thấy có cả chồng thư chưa bóc. Tình bảo: “Bác cháu mất đột ngột nên nhiều học trò không biết, vẫn gửi thư về, nhưng bác cháu chẳng đọc được nữa”. Tôi cầm chồng thư lên và nhận ra phong thư của chính tôi gửi về từ nước Nga xa xôi. Tôi quay sang nói với Tình: “Chú cũng là một học trò của bác Tuấn cháu đấy”.
“Trước khi mất” - Tình kể - “Bác Tuấn còn nắm tay cháu và bảo, ai cũng nói cháu giống bác, lớn lên cháu nhớ làm thầy giáo dạy Văn và chăm sóc những cây đào cho bác nhé…”.
Tự nhiên tôi bỗng thấy cay nơi khóe mắt.
Hình như gió xuân ở đâu đang thổi tới, lùa vào trong cổ áo...