Tục thờ thần rắn ven sông
(HPĐT)- Tục thờ rắn là tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ với ý nghĩa chính là tục thờ thủy thần. Tục thờ này mang ý niệm về sông nước của cư dân làm nông nghiệp. Ở Việt Nam, ngoài đền Kỳ Cùng (tỉnh Lạng Sơn), ở Hải Dương có đền Dọc, đền Am (huyện Tứ Kỳ), đền Tranh (huyện Ninh Giang) vẫn giữ tục thờ rắn từ xưa đến nay với những câu chuyện thần bí.

Tục thờ rắn là một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ với ý nghĩa chính là tục thờ thủy thần. Tục thờ này mang ý niệm về sông nước của cư dân làm nông nghiệp. Trong văn hóa Việt, rắn không chỉ là loài động vật bình thường mà còn trở thành biểu tượng tâm linh. Ở nhiều làng ven sông Thái Bình và sông Luộc đều truyền nhau những câu chuyện về tục thờ rắn thần làm thành hoàng.
Người đời truyền nhau rằng vào thời Minh thuộc ở đạo Hải Dương, phủ Hạ Hồng, huyện Tứ Kỳ, trang Lạc Dục có một danh gia họ Đặng húy là Chân, lấy bà Vũ Thị Đức là người cùng làng. Hai ông bà một lòng tu đức và hành thiện. Ở tuổi ngoài 40, ông bà vẫn chưa có được mụn con, bèn lập đàn cầu tự. Sau ông bà nhận nuôi 2 người con nuôi là Phạm Thuần và Phạm Lương. Một hôm, 2 đứa trẻ ra đồng nhặt được 2 quả trứng, một quả màu xanh, một quả màu trắng, hình như trứng rồng, đem về để ở ống tre. Qua 30 đến 40 ngày, một đêm, Thái Bà nằm mộng thấy một người mặc áo vàng chỏ trời, vạch đất bảo rằng: "Hai quả trứng này là trời cho nhà ngươi để sau này cả nhà ngươi được làm thần muôn đời". Nói xong rồi biến mất. Thái Bà tỉnh giấc, kể với Chân công. Ông cho đó là điềm lành sắp đến. Sáng ra, Chân công với Thái Bà lấy trứng ra xem, hốt hoảng nhìn thấy trong ống tre có 2 con rắn. Mỗi khi đức ông đi làm thì 2 con rắn lại theo ông đi, không may ông cuốc phải đứt đuôi một con (tục gọi là ông Cộc, ông Dài). Khi lớn lên, ông bà đem thả ra bến sông Lục Đức (sông Luộc ngày nay). Từ đấy, khúc sông xuất hiện sóng to dữ dội, thuyền bè không thể nào đi nổi.
Vào năm Khánh Lịch, có giặc Minh sang xâm lược nước ta. Vua Lê Thái Tổ nghe tin, lập tức triệu quần thần, tiến binh công phá. Hôm đó, Đế ngự thuyền rồng đến bến sông ấy không thể đi được. Lấy làm lạ, Vua lập tức triệu trang đó (tức bến sông Lãng Trang) để hỏi đầu đuôi duyên cớ. Nhà Vua liền cho gọi nhà họ Đặng ở Lạc Dục trang ra hỏi. Chân Công sợ bị tội liền bỏ trốn vào ngày 11-11. Khi đến gần phủ Thừa Khánh, châu Thoát Lãng, trang Mai Pha thì trong lòng lo sợ, lâm bệnh mà hóa. Sau do linh ứng mà nơi đó dân cũng lập đền thờ. Còn Thái Bà nguyện theo Hoàng đế đi đánh giặc. Đức Mẫu liền khấn, tự nhiên có 2 ông rắn (tức là Bạch Long quân và Hắc Long quân) phù thuyền rồng vua đi đánh giặc, khi thắng trận thì biến mất. Còn Thái Bà trở về đến quê nhà thì tự nhiên trời nổi mưa to gió lớn. Thái Bà cũng hóa vào ngày rằm tháng giêng. Sau nhà Vua biết, sắc phong cho bà là Dục Đức Thánh nương công chúa, hằng năm tổ chức quốc tế, đến ngày 16-4 thì tổ chức khánh hạ.
Ở Việt Nam, ngoài đền Kỳ Cùng (tỉnh Lạng Sơn) là di tích thờ Thái Bà và 2 ông rắn nổi tiếng thì ở Hải Dương có đền Dọc, đền Am (huyện Tứ Kỳ), đền Tranh (huyện Ninh Giang) cũng duy trì tục thờ này. Đó là những ngôi đền có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Đền Dọc gần sông Thái Bình, tương truyền là nền nhà và cũng là nơi hóa của bà Thánh Nương. Còn ở làng Hà Hải (làng Hới) có ngôi đền Am nằm sát sông Luộc có thờ bà Dục Đức Thánh Nương công chúa và 2 ông rắn thần là: Hà ứng Bạch long quân đại vương và Hải ứng Hắc long quân đại vương làm thành hoàng làng. Đây là ngôi đền hiếm hoi mà gọi rõ thần hiệu của 2 ông rắn thần này.