Chuyển đổi công nghệ trong doanh nghiệp nội: Cần bệ đỡ mạnh hơn
(HPĐT)- Trong bối cảnh chuyển đổi số và công nghiệp 4.0, nhiều doanh nghiệp nội địa trên địa bàn thành phố chủ động ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, so với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) - vốn có lợi thế về công nghệ và tiềm lực tài chính, doanh nghiệp trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn, cần sự “trợ lực” từ các cơ quan quản lý Nhà nước.

Chủ động ứng dụng công nghệ cao
Năm 2024, lợi nhuận hợp nhất của Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (Nhựa Tiền Phong) đạt mức cao nhất trong 65 năm lịch sử hoạt động. Cụ thể, lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt hơn 856 tỷ đồng, tăng 215 tỷ so với năm 2023, hoàn thành 154,2% kế hoạch; doanh thu đạt 5.532 tỷ đồng, tăng trưởng 9%, sản lượng tiêu thụ tăng 10% so với năm trước. Theo Chủ tịch HĐQT Đặng Quốc Dũng, doanh nghiệp chú trọng xây dựng hệ sinh thái sản phẩm hoàn chỉnh, phát triển mạnh các dòng ống và phụ kiện kỹ thuật cao, hướng đến giải pháp xanh, bền vững, thân thiện môi trường. Sản phẩm của Nhựa Tiền Phong không chỉ được sử dụng rộng rãi trong nước mà còn hiện diện ở các thị trường “khó tính” như Nhật Bản, Úc... Thời gian tới, công ty tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong quản trị, sản xuất, chăm sóc khách hàng, đồng thời đa dạng hóa danh mục sản phẩm, mở rộng sang các lĩnh vực liên quan như giải pháp đô thị thông minh, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng xanh.
Không chỉ Nhựa Tiền Phong, doanh nghiệp khác cũng ghi dấu ấn trong ứng dụng công nghệ cao là Công ty cổ phần Sơn Hải Phòng. Thông tin từ công ty, cùng thời điểm Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài 1.541 km, tổng vốn sơ bộ 1,7 triệu tỷ đồng (tương đương 67 tỷ USD), công ty tung ra thị trường dòng sản phẩm mới: vật liệu tổng hợp CUS-UB10 dành riêng cho đường sắt cao tốc. Theo Tổng giám đốc Nguyễn Văn Dũng, CUSUB10 được sản xuất theo công nghệ của Chugoku Marine Paints (Nhật Bản), là vật liệu tổng hợp gốc Polyurethane, từng ứng dụng trên 2.511 km hệ thống tàu cao tốc Shinkansen (Nhật Bản) và 349 km đường sắt cao tốc tại Đài Loan, với nhiều ưu điểm vượt trội so với vật liệu truyền thống. Việc ra mắt sản phẩm CUS-UB10 thể hiện năng lực nghiên cứu - phát triển và sản xuất công nghệ cao của doanh nghiệp. Đây cũng là yếu tố giúp Công ty CP Sơn Hải Phòng duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, doanh thu năm 2024 vượt 1.231 tỷ đồng, vượt 4% kế hoạch.
Nhựa Tiền Phong và Sơn Hải Phòng là hai trong số ít doanh nghiệp nội địa tích cực ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh.
“Trợ lực” cho doanh nghiệp nội địa
Theo Sở Công Thương, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của thành phố tăng mạnh từ 43% (2018) lên 60,6% (2023); chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cũng tăng trưởng ấn tượng, trung bình trên 14% giai đoạn 2019 - 2024. Điều này không chỉ phản ánh sức sống của nền kinh tế mà còn khẳng định vai trò dẫn dắt của các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Tuy vậy, mặc dù quy mô sản xuất công nghiệp của thành phố tăng trưởng cao, phần lớn vẫn đến từ khối doanh nghiệp FDI. Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa (chủ yếu là vừa và nhỏ) dù bước đầu chủ động đầu tư dây chuyền hiện đại, áp dụng quản trị số hóa, cải tiến quy trình để nâng tính cạnh tranh, vẫn gặp nhiều khó khăn về vốn, nhân lực, năng lực quản trị. Công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, mức độ liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc giữa các ngành còn hạn chế. Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp hỗ trợ trong nước còn yếu, chưa thúc đẩy chuyển giao công nghệ hay hình thành chuỗi cung ứng vật tư.
Trong bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành rất quan trọng, mang tính “bệ đỡ” cho doanh nghiệp bứt phá. Giám đốc Sở Công Thương Nguyễn Văn Thành thông tin: để tiếp tục nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và phát triển công nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn tới, Sở tập trung đẩy mạnh các chương trình kết nối, xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, cung cấp thông tin về nhu cầu công nghiệp hỗ trợ... nhằm tạo cầu nối giữa doanh nghiệp hỗ trợ với các doanh nghiệp lắp ráp, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi, nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ hình thành các khu, cụm công nghiệp gắn với nhà xưởng tiêu chuẩn hiện đại, đáp ứng kịp thời nhu cầu đầu tư công nghiệp hỗ trợ của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước.