Từ những bản làng nơi rẻo cao xa xôi, họ rời nương ngô, nương lúa, mang theo hy vọng và cả những đứa con bé bỏng, xuống công trường đất Cảng mưu sinh.
Buổi sáng sớm, công trường Tân Phú Hưng (phường Thạch Khôi) đã rộn rã tiếng máy xúc, tiếng hò nhau chuyển cát, tiếng sắt thép va vào nhau. Trong dòng người khoác áo bảo hộ, lẫn vào đó là nhiều gương mặt rám nắng đến từ những bản làng xa xôi của Lào Cai, Điện Biên, Tuyên Quang, Lạng Sơn... Họ rời quê sau vụ mùa, xuống đất Cảng để tìm kế sinh nhai.
Hoàng Văn Tiệp, sinh năm 2008, quê ở xã Mường Ảng (Điện Biên), còn rất trẻ nhưng đã sớm rời ghế nhà trường để theo bạn bè xuống công trường.
Hành trình của những người như Tiệp không đơn độc. Hàng chục, hàng trăm lao động vùng cao như Tiệp gác lại nương rẫy để hòa vào nhịp gấp gáp của thành phố công nghiệp.
Ở công trường, nhịp lao động như cuốn mọi người vào guồng. Những đôi vai chắc nịch gánh cát đá, những bàn tay thoăn thoắt buộc thép, những tiếng gọi nhau “nhanh tay”, “cẩn thận” vang lên giữa cái nắng hầm hập.
Người vốn quen cuốc nương, bổ củi giờ thành thục với máy cắt sắt, máy trộn bê tông. Chị Vàng Thị Hoa, quê Tuyên Quang, cười rạng rỡ khi chuyền từng xô vữa: “Ngày đầu tôi sợ lắm, cứ tưởng chỉ đàn ông mới làm nổi. Giờ quen rồi, thấy mình cũng khỏe, cũng góp sức như ai. Công trường ồn ào, lúc nào cũng sôi động, làm việc khí thế mới có tiền nhanh”.
Không có nhiều kỹ năng xây dựng ban đầu, nhưng chỉ vài tuần, họ học hỏi nhau, bắt nhịp nhanh chóng những công việc thủ công. Chính sự chăm chỉ, bền bỉ, sức khoẻ tốt và tinh thần làm hết sức của lao động vùng cao đã khiến các chủ thầu tin tưởng.
Nếu như ở bản, một ngày làm thuê chỉ kiếm được khoảng 100.000 đồng mà việc cũng ít ỏi, thì ở công trường Hải Phòng và các khu công nghiệp lân cận, mức công dao động từ 250.000 300.000 đồng/ngày, thợ chính có thể được 400.000 - 500.000 đồng/ngày. Trung bình mỗi tháng, sau khi trừ ăn uống, người lao động có thể gửi về cho gia đình từ 3 - 5 triệu đồng.
Trên các công trường, lao động vùng cao rất được các chủ thầu tin tưởng bởi họ chăm chỉ, chịu khó và ít than vãn. Dù công việc nặng nhọc, họ vẫn bền bỉ gắn bó từ sáng sớm đến chiều muộn. Nhiều nhà thầu cho biết, chỉ cần giao việc là yên tâm, bởi những người thợ từ miền núi luôn làm hết sức mình, coi công trường như nơi gửi gắm niềm hy vọng đổi đời
Anh Trương Văn Tuấn, sinh năm 1991, quê phường Mai Pha (Lạng Sơn) đã đi làm công trường nhiều năm, nay quen việc nên được giao phụ trách sơn. Nhờ tay nghề, mỗi tháng anh có thu nhập hơn 10 triệu đồng.
Anh Tuấn chia sẻ: "Ở quê một năm trồng ngô, trồng lúa chẳng bán được bao nhiêu. Đi làm xa vất vả nhưng chắc chắn hơn. Tôi đi ba tháng, gửi về 20 triệu, đủ cho vợ nuôi con, đóng tiền học. Nếu ở nhà, chẳng biết lấy đâu ra".
Con số vài triệu đồng mỗi tháng với người thành phố không lớn, nhưng với gia đình vùng cao lại vô cùng quý giá. Đó là tiền mua gạo, quần áo, thuốc men cho cha mẹ già, là khoản học phí cho con trẻ, là tấm "lá chắn" giữ cho cả nhà không rơi vào cảnh túng quẫn.
Có những gia đình không thể để con ở nhà đành mang theo xuống công trường. Chị Lường Thị Thắm, quê Lào Cai cùng chồng xuống làm việc tại công trường Tân Phú Hưng. Họ gửi hai đứa con lớn ở nhà cho ông bà còn bé út Nguyễn Đức Hải Đăng mới 19 tháng tuổi thì buộc phải mang theo.
Chị Thắm và con trai ở tại khu lán trại dành cho công nhân do chủ đầu tư - Công ty CP Đầu tư Newland bố trí
Ban ngày, bé loanh quanh trong khu lán trại, thỉnh thoảng được mẹ cho ra ngoài chơi. Giữa tiếng máy khoan, tiếng cần cẩu, tuổi thơ Đăng lớn lên với xô chậu, cát sỏi.
Chị Thắm thở dài: "Biết là khổ cho con, nhưng không mang theo thì chẳng có ai trông. Ở quê, ông bà già cả, lại ốm đau. Mong sau này kiếm được tiền cho cháu đi học lại, còn giờ đành chịu".
Câu chuyện ấy không hiếm. Nó phản ánh lựa chọn khó khăn của nhiều gia đình vùng cao: giữa kiếm sống và nuôi dạy con cái, họ phải chấp nhận hy sinh một phần tuổi thơ của con để giữ vững miếng cơm manh áo.
Công trường Hải Phòng và các khu công nghiệp lân cận thu hút ngày càng nhiều lao động vùng cao bởi tính ổn định. Mỗi khi bản làng xong mùa gặt, nhiều người rủ nhau xuống thành phố. Chủ thầu cũng thích thuê họ vì sự chịu khó, ít đòi hỏi.
Theo đại diện các nhà thầu, những lao động từ vùng cao luôn làm việc chăm chỉ, chịu khó và bắt nhịp rất nhanh
Anh Ngô Văn Thoàn, Chỉ huy phó bộ phận kế hoạch Dự án xây dựng nhà máy sản xuất văn phòng phẩm của Công ty Hữu hạn Tập đoàn Deli tại khu công nghiệp Đại An mở rộng cho biết, trong số hơn 500 công nhân đang làm việc tại công trường thì có tới khoảng 70% là người vùng cao. Xa nhà nên họ được bố trí ở luôn tại khu vực lán trại của công trường. Họ chịu khó, thực hiện các yêu cầu công việc rất tốt.
Chính sự gắn bó ấy đã hình thành một “chu trình mưu sinh”: hết mùa vụ thì xuống công trường, tích cóp tiền vài tháng, rồi lại trở về bản lo cấy gặt. Cứ thế, nhịp điệu cuộc sống của nhiều gia đình vùng cao được điều chỉnh bởi guồng quay công trường nơi đất Cảng.
Đằng sau từng xô vữa, từng khối bê tông là những giọt mồ hôi đẫm áo. Công việc nặng nhọc, thời tiết khắc nghiệt, rủi ro tai nạn luôn rình rập. Nhưng lao động vùng cao vẫn chấp nhận, bởi họ biết mỗi ngày đi làm là sẽ tích được một khoản tiền để cuối tháng gửi về quê.
Chị Sùng Thị Chu, quê Vị Xuyên (Tuyên Quang), cùng chồng xuống làm, tính toán: “Mỗi ngày hai vợ chồng tôi kiếm được khoảng 600.000 đồng. Ăn uống, chi tiêu hết 200.000 đồng. Tháng cũng dư 10 triệu đồng gửi về. Bố mẹ tôi ở bản chẳng bao giờ nghĩ con cái kiếm được ngần ấy tiền”.
Với họ, tiền kiếm được ở đất Cảng không chỉ là sinh kế mà còn là niềm tự hào, là cách để chứng minh rằng người vùng cao cũng biết đi xa, biết vươn mình thoát nghèo.
Dù vất vả, trong ánh mắt của những lao động vùng cao dưới công trường đất Cảng vẫn ánh lên niềm hy vọng. Có người mơ dành dụm đủ tiền dựng căn nhà nhỏ ở quê, có người mong con được đi học đàng hoàng, thoát khỏi vòng luẩn quẩn nương rẫy.
Tiếng cười, âm thanh lao động vang lên đều đặn trên công trường trong mọi điều kiện thời tiết
“
Mỗi buổi chiều, khi ánh hoàng hôn buông xuống trên dàn cần cẩu, những công nhân người Thái, người Mông, người Dao ngồi bên nhau, kể về bản làng xa ngái
Dù cách xa hàng trăm cây số, nhưng chính Hải Phòng đang trở thành nơi họ gửi gắm sức lực, mồ hôi và cả những ước mơ giản dị.
“Chúng tôi đi làm thuê không chỉ để sống hôm nay, mà còn để con cái ngày mai có cơ hội hơn. Chỉ mong chúng học hành, không phải vác gạch, bốc cát như bố mẹ”, Tiệp bộc bạch.
Nhiều công nhân từi nương rẫy xuống công trường. Họ chấp nhận vất vả hôm nay để con cái mai sau có một tương lai tươi sáng hơn
Từ những thửa ruộng bậc thang heo hút đến công trường náo nhiệt nơi đất Cảng là cả một hành trình dài đầy mồ hôi và nước mắt. Nhưng với họ, đó là con đường tất yếu để thoát nghèo, để đổi đời.
Giữa bụi bặm và tiếng ồn, những con người ấy vẫn miệt mài lao động với niềm tin giản dị: chỉ cần kiên nhẫn, cần cù, những đồng tiền mồ hôi hôm nay sẽ chắp cánh cho ngày mai của gia đình, của bản làng nơi rẻo cao xa xôi.