Khó khăn trong việc dạy học sinh rối loạn phát triển ở trường phổ thông
Số lượng học sinh có dấu hiệu rối loạn phát triển, tăng động, tự kỷ ngày càng tăng. Thực tế này khiến nhiều trường học và giáo viên lúng túng.

Cô, trò cùng vất vả
Những năm gần đây, tình trạng học sinh rối loạn phát triển, đặc biệt là tự kỷ và tăng động giảm chú ý, được phát hiện nhiều hơn tại các trường phổ thông. Không ít em vẫn theo học cùng bạn bè bình thường, song hành trình hòa nhập gặp nhiều trở ngại.
Tại Trường Mầm non Cẩm Vũ, xã Tuệ Tĩnh, năm học này có 17 nhóm lớp cho trẻ từ 3 – 5 tuổi. Một số lớp có trẻ xuất hiện dấu hiệu tự kỷ ở các mức độ khác nhau. Giáo viên phải dành thêm nhiều thời gian quan sát, kiên nhẫn hướng dẫn riêng cho từng em, song do chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn đặc thù nên không ít thầy cô vẫn lúng túng khi xử lý tình huống.
Áp lực vừa phải bảo đảm tiến độ chương trình chung, vừa quan tâm sát sao đến từng trẻ “đặc biệt” khiến cả cô và trò đều vất vả.
Cô Nguyễn Thị Thắng, Hiệu trưởng Trường Mầm non Cẩm Vũ chia sẻ giáo viên đã trao đổi với phụ huynh, nhưng phần lớn cha mẹ cho rằng việc chậm nói, rối loạn cảm xúc là bình thường nên chưa thật sự quan tâm, phối hợp cùng nhà trường để can thiệp sớm cho con.
Tại các trường tiểu học, tình trạng này cũng không hiếm gặp. Có trường hợp học sinh không làm chủ được cảm xúc, thường xuyên tức giận, hét lớn khi có chuyện không bằng lòng.
Đáng chú ý, khi đã bước vào độ tuổi tiểu học, các em đều đã đi qua “giai đoạn vàng” để can thiệp điều trị. Đây là điều rất đáng tiếc.
Cô giáo Vũ Thị Phương, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Hồng, xã Bắc Thanh Miện cho biết: “Ở bậc tiểu học, chúng tôi gặp khá nhiều học sinh có biểu hiện rối loạn cảm xúc hoặc chậm phát triển kỹ năng xã hội. Do đã lớn hơn, các em bắt đầu có ý thức khẳng định cái tôi nên việc quản lý cảm xúc càng khó khăn. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em mà còn tác động đến không khí lớp học.”
Việc chậm phát hiện và thiếu sự can thiệp kịp thời ngay từ bậc mầm non đã để lại những hệ lụy rõ rệt ở bậc học tiếp theo, đặt ra nhiều thách thức cho cả giáo viên và nhà trường trong hành trình hỗ trợ trẻ hòa nhập.
Thực tế cho thấy, khi giáo viên phải dành nhiều thời gian hỗ trợ học sinh “đặc biệt”, tiến độ và chất lượng dạy học chung khó bảo đảm. Học sinh có rối loạn phát triển không được hỗ trợ chuyên sâu, trong khi các bạn khác cũng bị gián đoạn việc học. Cả cô và trò đều vất vả, khiến chất lượng giáo dục chưa đạt như kỳ vọng.
Bên cạnh nỗ lực của giáo viên, sự đồng hành của gia đình giữ vai trò then chốt. Nếu phụ huynh thiếu nhận thức về rối loạn phát triển, trẻ có thể bỏ lỡ giai đoạn “vàng” để can thiệp, làm giảm cơ hội hòa nhập hiệu quả.

Ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
Hiện nay, ở nhiều trường phổ thông, giáo viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để nhận diện, hỗ trợ học sinh “đặc biệt”. Phần lớn thầy cô phải tự mày mò, dựa vào kinh nghiệm giảng dạy và sự kiên nhẫn của bản thân. Nhiều giáo viên thậm chí còn kiêm nhiệm vai trò như một “người trị liệu”, vừa đứng lớp vừa quan tâm riêng đến từng em, khiến khối lượng công việc tăng gấp đôi, áp lực ngày càng nặng nề.
Trong khi đó, khung chương trình học tập chung vẫn phải bảo đảm, dẫn đến nguy cơ dạy nhanh, dạy ép hoặc chưa theo sát được năng lực tiếp thu của tất cả học sinh.
Có giáo viên tâm sự, trong một tiết học, khi cả lớp đang chăm chú làm bài, chỉ cần một học sinh tăng động bất ngờ hét lớn hoặc bỏ chỗ chạy quanh lớp là không khí học tập bị gián đoạn, buộc giáo viên phải mất nhiều thời gian trấn an và đưa lớp trở lại trật tự. Chính những tình huống này khiến việc duy trì tiến độ giảng dạy trở nên khó khăn, chất lượng chung cũng bị ảnh hưởng.
Sự xao nhãng hay mất trật tự từ một vài học sinh cũng ảnh hưởng đến bầu không khí chung, làm gián đoạn tiến trình dạy – học của cả lớp. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp tác động đến chất lượng giáo dục toàn diện.
Về phía phụ huynh, nỗi lo lắng càng nhân lên. Họ mong muốn con được hòa nhập, học tập như bạn bè nhưng lại e ngại sự kỳ thị hoặc lo con tụt lại phía sau. Có gia đình phải đưa con đến các trung tâm can thiệp ngoài giờ với chi phí tốn kém, thời gian gò bó, tạo thêm áp lực kinh tế và tinh thần. Tuy nhiên, việc can thiệp rời rạc, thiếu kết nối với chương trình học ở trường thường chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.

Chị N.T.H ở xã Nam Sách có con trai mắc chứng tự kỷ, hiện học lớp 1 cùng bạn bè bình thường. Chị thừa nhận, các thầy cô đã nỗ lực hết sức nhưng vẫn chịu nhiều áp lực để vừa dạy học chung, vừa hỗ trợ riêng cho con chị. Điều này cho thấy rõ những khó khăn mà giáo viên phổ thông đang phải đối diện khi thiếu sự hỗ trợ chuyên biệt.
Nếu những bất cập này kéo dài, hiệu quả dạy và học sẽ giảm.
Để khắc phục, ngành giáo dục cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng sư phạm đặc thù dạy tại các trường phổ thông; đồng thời bổ sung nhân lực tâm lý học đường và thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.
Nhiều trường chưa có chuyên gia tâm lý học đường, giáo viên hỗ trợ riêng hay phòng chức năng để thiết kế các hoạt động rèn luyện kỹ năng cho trẻ. Khi không có sự can thiệp chuyên sâu, học sinh “đặc biệt” khó bắt nhịp với bài học, dễ rơi vào tình trạng bị cô lập hoặc bỏ lỡ cơ hội phát triển.