Tấm Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng của mẹ tôi
Truyện ngắn 'Tấm Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng của mẹ tôi' của Vũ Thúy Hồng là một hồi ức giàu cảm xúc, khắc họa chân thực câu chuyện của một gia đình gắn với thăng trầm của thành phố Hải Phòng.

Mây trời Hải Phòng dịp này lạ lùng lắm. Không chỉ có màu xanh trong của mùa thu, mà còn vương chút khói, chút bụi từ những chiếc cần cẩu khổng lồ đang vươn mình ra biển. Lòng tôi lại miên man nhớ về những tháng năm xưa cũ, về câu chuyện của bố, của mẹ, và của chính tôi – đứa con sinh ra giữa khói lửa, lớn lên cùng nhịp đập của Cảng.
Câu chuyện của gia đình tôi bắt đầu từ bố tôi, một người lính nhập ngũ từ năm 16 tuổi. Bố, chàng trai trẻ từ đất Thanh Miện, Hải Dương, đã gác lại những buổi cấy lúa, những phiên trồng khoai để khoác lên mình chiếc áo lính. Bố biên chế tại Khu Tả ngạn, chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp và từng bị thương ở chân. Vết thương trên người bố là một dấu son không thể phai mờ trong hành trình của người lính trẻ. Khi điều trị hồi phục, bố được cùng đồng đội tiến vào tiếp quản Hải Phòng năm 1955. Thành phố Cảng khi ấy còn ngổn ngang bởi sự phá hoại của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí, và bố tôi, người lính trẻ, đã chứng kiến sự hồi sinh của thành phố từ những ngày đầu.
Bên nội tôi, gia đình gốc gác là cơ sở cách mạng ở Thanh Miện, nơi được Công an Khu Tả ngạn chọn làm địa điểm huấn luyện một tổ điệp báo đặc biệt. Họ hoạt động trong lòng địch ở Sài Gòn, và những chiến công thầm lặng của họ đã góp phần vào ngày đại thắng. Bố tôi kể, chính ngôi nhà nhỏ lợp ngói đỏ ở quê nội đã trở thành “mái ấm” cho các chiến sĩ điệp báo suốt một năm trời trước khi họ theo tàu biển chở người dân di cư vào Nam. Bố tôi và gia đình bên nội như một mảnh ghép nhỏ, nối liền những vùng đất cách mạng, từ Hải Dương đến Sài Gòn, từ chiến trường xưa đến Cảng Hải Phòng.
Vào tiếp quản thành phố chưa được bao lâu, vết thương cũ của bố lại tái phát. Ông rời quân ngũ, chuyển ngành về làm tại Cảng Hải Phòng. Cảng trở thành ngôi nhà thứ hai của ông, nơi bố không chỉ lao động sản xuất mà còn là một trong những nòng cốt của Trung đoàn Tự vệ. Những năm tháng ấy, bố tôi vừa bốc vác, vừa chiến đấu. Đôi vai bố cõng hàng, đôi tay bố cầm súng, bảo vệ từng tấn hàng, từng bến cảng trước những đợt bắn phá, ném bom của giặc Mỹ.
Mẹ tôi là mậu dịch viên. Hai ông bà gặp nhau, kết hôn, và tôi ra đời vào năm 1965, đúng vào lúc giặc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Năm ấy, mẹ vừa được kết nạp Đảng, và đến cuối mùa hè thì sinh tôi. Năm nay, mẹ đã 60 năm tuổi Đảng. Mỗi lần nhìn mẹ cài huy hiệu lên ngực, tôi lại nhớ về những câu chuyện mẹ kể, những ký ức về ngày tôi chào đời giữa bão đạn.
*
Khi ấy, các nhà máy, xí nghiệp đều sơ tán, nhưng một bộ phận của ngành Thương nghiệp thì vẫn bám trụ thành phố, tổ chức các điểm bán hàng lưu động để phục vụ bộ đội và nhân dân. Mang thai tôi được 5 tháng, mẹ mới chịu về quê, nơi có ông bà nội ở Hải Dương, để sinh con. Đó là thời điểm chiến dịch “Sấm rền” của Mỹ đang diễn ra ác liệt.
Ngày 24 tháng 7 năm 1965, ngày tôi cất tiếng khóc chào đời, cũng là ngày quân và dân ta giáng trả địch bằng trận đánh tên lửa phòng không đầu tiên, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Trong khi bố tôi cùng đồng đội tự vệ Cảng và pháo cao xạ thành phố dũng cảm chiến đấu, thì mẹ tôi ở nơi quê nhà, hạ sinh tôi trong khi tin chiến thắng được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam để nhân dân cả nước và thế giới được biết.
Bốn tháng sau, mẹ gửi tôi lại cho ông bà nội, tiếp tục quay về Hải Phòng để sát cánh bên bố và đồng nghiệp. Mẹ kể lại, mẹ đạp chiếc xe Thống Nhất cũ đã dão xích, vượt hơn 60 cây số từ Hải Dương ra Hải Phòng, miệt mài trong một ngày trời. Con đường ấy, một bên là cánh đồng lúa xanh mướt, một bên là mương nước có hàng bạch đàn cao vút. Tiếng máy bay gào rú, bom đạn vẫn đe dọa phá tan sự yên bình. Mỗi vòng quay xe là một vòng quay của tình yêu, của trách nhiệm, và của lòng quả cảm.
Từ cuối tháng 11 năm 1972, hàng hóa đã được sơ tán dần ra khỏi Cảng. Mẹ tôi về lại quê nhà. Lòng mẹ luôn thấp thỏm lo lắng, bởi trước đó, các khu phố, cơ quan đã được Ban Quân sự Thành ủy tổ chức diễn tập tình huống B52 đánh vào thành phố. Cả thành phố sống trong lo âu, hồi hộp, nhưng không ai nghĩ được rằng trận chiến khốc liệt nhất lại đến vào những ngày cuối năm.
Đêm 26 tháng 12 năm 1972, ký ức đau thương không chỉ của nhân dân Hải Phòng mà còn là của riêng gia đình tôi. 22 giờ 10 phút, Sở Chỉ huy Phòng không phát lệnh báo động. Tiếng còi ủ từ Nhà máy nước rú lên từng hồi, xé toang màn đêm. Không đến 20 phút sau, hàng đàn máy bay B52 và máy bay chiến thuật đã thi nhau thả bom vào các vị trí trọng điểm: Cảng chính, Nhà máy Xi măng, Kho xăng dầu Thượng Lý… Tôi còn nhớ rõ, dù ở quê, tôi vẫn thấy tiếng máy bay xẹt ngang, và những tiếng nổ vang vọng như sấm. Cả đêm đó, mẹ không chợp mắt. Mẹ cứ đi đi lại lại trong sân, chốc chốc lại nhìn về phía Đông, nơi có thành phố, nơi bố tôi đang chiến đấu. Mấy ngày sau, mẹ quỵ ngã khi nhận tin bố tôi đã hy sinh trong trận chiến ác liệt ấy. Bố trở thành một phần của Cảng, máu xương bố hòa vào mảnh đất mà bố đã cống hiến cả cuộc đời.
Tôi học lớp 5 thì đất nước giải phóng hoàn toàn. Tôi còn nhớ ở Nhà hát Lớn (Nhà hát thành phố bây giờ) có dựng một tấm bản đồ rất to. Mỗi ngày, tôi và lũ trẻ trong xóm lại chạy ra xem. Tấm bản đồ cập nhật thông tin hàng ngày về những bước tiến của quân ta trên các chiến trường. Mỗi lần thấy một mũi tên tiến sâu vào miền Nam, chúng tôi lại hò reo.
Rồi đất nước thống nhất. Tôi nhớ mãi hôm mùng 2 tháng 9 năm 1975, lần đầu tiên tôi được đi xem pháo hoa ở bờ sông Lấp (nay là hồ Tam Bạc). Pháo hoa đủ sắc màu đỏ xanh vàng tím nổ bùng trên đầu, rất hứng khởi. Hồi đó tôi cứ nghĩ pháo hoa là phép màu. Em gái tôi, lúc đó mới 6 tuổi, lại sợ hãi, chạy vào trốn trong gầm cầu thang ở ngõ nhà, không dám ra xem tiếp. Nỗi sợ hãi ấy của em như một ám ảnh của thế hệ sinh ra trong chiến tranh, của những đứa trẻ đã quen với tiếng còi báo động và tiếng bom đạn.
Mẹ tôi về làm việc tại nhà ăn ca của Cảng. Chúng tôi được phân nhà ở khu tập thể dưới Đồng Bớp. Những đêm đông lạnh giá, anh em tôi thức trắng, chụm vào nhau dưới chiếc chăn mỏng, ngóng mẹ. Chúng tôi chờ đợi mẹ về không phải vì đói, mà vì chờ đợi những chiếc bánh mì của nhà ca giòn tan, nóng hổi mẹ để dành cho. Có hôm mẹ mang về chiếc bánh cát ca thơm ngậy mùi bơ sữa, mẹ nhờ mua bên Câu lạc bộ thủy thủ. Thức ăn đặc biệt ngon lành như thế, chỉ bán cho thủy thủ thuyền viên nước ngoài, hiếm hoi lắm mình mới “ké” được. Những chiếc bánh ấy không chỉ là quà bánh, mà còn là tình yêu của mẹ, là sự chắt chiu của những đêm lo lắng tảo tần.
Sau này, khi tốt nghiệp Đại học Hàng hải ngành Công trình thủy, tôi được tuyển dụng vào công tác tại Cảng Hải Phòng nối nghiệp bố mình. Tôi là một trong những kỹ sư trẻ được tuyển dụng vào Ban quản lý dự án cải tạo nâng cấp Cảng. Tôi đã chứng kiến sự đổi thay từng ngày của Cảng. Từ bến Cảng tại phố Hoàng Diệu năm nào, giờ thì thành phố đã có hơn 50 bến cảng với tất cả các chủng loại hàng hóa, từ sắt thép, thiết bị, máy móc, hàng thức ăn gia súc đến các bến container hiện đại. Cảng Hải Phòng đã trở thành huyết mạch của kinh tế miền Bắc, và tôi tự hào là một phần trong đó.
Mẹ tôi hay nói đùa: “Mỗi một lần Cảng có lương, có thưởng, là cả chợ Đổ, chợ Ga đều cháy hàng. Ngồi quán nước vỉa hè nào cũng thấy xôn xao nói về việc công nhân cảng được thưởng bình quân bao nhiêu tiền”. Điều đó cho thấy, Cảng không chỉ là nơi làm việc, mà là hơi thở, là cuộc sống của cả một thành phố.
Nhà tôi ở tầng 2, khu tập thể Cảng tại Đồng Quốc Bình. Căn gác nhỏ gắn với bao nhiêu kỷ niệm từ ngày thơ ấu đến khi chúng tôi có gia đình riêng. Ngày nghỉ, ngày lễ đều về quay quần bên mẹ. Xóm thợ thân thương ấy như một bức tranh phản chiếu đời sống cần lao của Hải Phòng.
Một hôm, mẹ hốt hoảng gọi tất cả các con về nhà. Mẹ khóc và nói: “Thành phố sắp di chuyển hết các gia đình ở đây đi rồi. Nghe nói chuẩn bị xây các khu biệt thự và nhà to lắm, vậy thì nhà mình sẽ đi về đâu?” Em gái tôi bảo: “Mẹ đừng lo, đây là chủ trương chung của thành phố, người ta xóa những căn tập thể cũ, xuống cấp như thế này, để xây dựng chung cư mới, hiện đại hơn, nhà mình vẫn có tiêu chuẩn về ở đó. Bởi vậy khi chính quyền tuyên truyền, vận động về việc di dời, mẹ cứ chấp hành nhé”. Mẹ tôi gật đầu.
Ngày dọn về nhà mới tại tầng 25 của tòa nhà HHx, mẹ cứ rớt nước mắt mà bảo: “Bố chúng mày thiệt thòi vì qua đời sớm quá, không biết cái thang máy nó lại bóng đẹp, chạy vù vù thế này. Ông ấy thích thoáng đãng, không được hưởng cái ban công nhìn ra thấy gió trời nhiều thế này…”.
Năm nay thành phố kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng, Cảng Hải Phòng cũng khánh thành 2 cầu cảng nước sâu ở khu vực Cảng quốc tế Lạch Huyện. Hôm tổ chức lễ khánh thành, xem truyền hình đưa tin, thấy con gái tôi đứng trong đội ngũ cầm hoa lụa phục vụ cắt băng, mẹ tôi lại khóc: “Khổ thân ông ấy, mất sớm thế, bây giờ không được nhìn cái tàu to trăm nghìn tấn vào Cảng, không thấy cháu nội mình giỏi giang, nói tiếng Anh như gió thế kia”.
Cứ mỗi lần có chuyện gì vui, mẹ tôi lại khóc. Mẹ khóc vì hạnh phúc, khóc vì tiếc cho bố không được chứng kiến những đổi thay. Mẹ khóc vì những vất vả cơ hàn mà bố đã trải qua, nay mọi người sung sướng thế, bố lại không còn nữa. Chỉ hôm nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng là mẹ không khóc. Ngày 13 tháng 5, mẹ dùng tiền thưởng khao cả nhà một bữa liên hoan. Mẹ bảo rằng, tôi là người hạnh phúc nhất, vẻ vang nhất vì “khi được kết nạp Đảng, rồi khi sinh anh ra, bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu khó khăn vất vả, anh là người đồng hành với tôi từ khi còn ở trong cái bụng này này, nay tôi có cái huy hiệu bằng với tuổi anh rồi”.
Giờ thì quê nội và quê ngoại đã về chung một nhà. Sang năm tôi sẽ nghỉ hưu. Cuộc đời tôi, cuộc đời của gia đình tôi, đã gắn chặt với Cảng, với Hải Phòng, với những thăng trầm của đất nước. Những ký ức về ngày tôi chào đời, giờ đây, khi mẹ đã 90 tuổi, vẫn được kể lại với niềm tự hào, với nỗi bùi ngùi, xa xót. Đó không chỉ là câu chuyện của riêng gia đình tôi, mà còn là câu chuyện của một thành phố anh hùng, của một thế hệ đã sống và chiến đấu hết mình vì độc lập, tự do.