Từ chuyện lá tre xuất ngoại nghĩ tới phát triển xanh, bền vững
Câu chuyện nhỏ ở phường Nguyễn Trãi, nơi người dân hái lá tre xuất khẩu sang Nhật Bản và châu Âu đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp Hải Phòng.

Một người bạn ở phường Nguyễn Trãi (Tây Hải Phòng) kể chuyện người dân địa phương trồng tre Bát Độ không chỉ để lấy măng như trước mà còn bán lá tre xuất khẩu. Từ tháng 5 đến tháng 11 hằng năm, người dân nơi đây lại hái lá tre, đóng gói cẩn thận để xuất khẩu sang Nhật Bản và châu Âu, biến lá tre thành vật liệu gói bánh, đựng thức ăn hay trang trí món ăn. Câu chuyện những chiếc lá tre “đi Tây” tưởng nhỏ, nhưng là minh chứng sinh động về cách nông sản Việt “làm mới mình”.
Theo số liệu của ngành Hải quan, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2025, Việt Nam xuất khẩu gần 9 triệu USD các loại lá như: lá chuối, lá sắn, lá nguyệt quế, lá tre... tăng 27% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu lá cây phản ánh bước chuyển quan trọng trong nông nghiệp, từ khai thác phần chính sang khai thác toàn phần. Lá tre, bẹ chuối, lá sắn… đều có thể trở thành sản phẩm giá trị nếu biết cách chế biến và kết nối với nhu cầu tiêu dùng xanh toàn cầu. Đây cũng là xu hướng mà nông nghiệp Hải Phòng, vùng đất có truyền thống trồng lúa, chuối, ngô, tre, cói… hoàn toàn có thể đón đầu.
Thực tế, lượng phụ phẩm nông nghiệp của Hải Phòng hiện rất lớn. Mỗi năm có hàng trăm nghìn tấn rơm rạ, bẹ ngô, thân chuối, lá cây bị bỏ lại ngoài đồng. Phần lớn phụ phẩm này bị nông dân đốt bỏ để lấy đất trồng vụ mới. Trong khi đó, nếu qua sơ chế, những phụ phẩm này có thể trở thành nguồn nguyên liệu quý. Mô hình ở phường Nguyễn Trãi chính là ví dụ điển hình cho khả năng biến phụ phẩm nông nghiệp thành hàng hóa, giúp nông dân tăng thu nhập, đồng thời giảm rác thải nông nghiệp.
Câu chuyện lá "đi Tây” càng có ý nghĩa hơn khi đặt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn từng bước loại bỏ sản phẩm nhựa dùng một lần. Theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 1/1/2026, sẽ dừng sản xuất và nhập khẩu túi ni lông khó phân hủy có kích thước nhỏ hơn 50cm x 50cm. Đến sau năm 2030, toàn bộ sản phẩm nhựa sử dụng một lần sẽ không còn được lưu hành. Khi ấy, loại vật liệu sinh học, nhất là những sản phẩm làm từ lá, bẹ, sợi tự nhiên sẽ trở thành lựa chọn thay thế tất yếu.
Việt Nam mỗi năm thải ra khoảng 1,8 triệu tấn rác nhựa, nhưng chỉ 10% trong số đó được tái chế. Số còn lại trôi ra sông, biển, phân rã thành vi nhựa. Chúng ta quen với túi ni lông tiện lợi, cốc nhựa giá rẻ, nhưng ít khi nghĩ rằng chính sự tiện lợi ấy sẽ phải trả giá bằng môi trường sống của thế hệ sau. Bởi vậy, việc phát triển những sản phẩm thay thế từ phụ phẩm nông nghiệp như: túi, hộp, bao bì, ống hút, dây buộc… không chỉ là cơ hội kinh tế, mà còn là lối thoát cho hành tinh đang “ngộp thở” vì nhựa.
Hải Phòng có lợi thế là trung tâm công nghiệp - dịch vụ ven biển, đồng thời vẫn giữ được nền nông nghiệp mạnh, nhất là tại các địa phương khu vực phía tây thành phố, do đó có đủ điều kiện để đi đầu trong lĩnh vực này. Nếu mỗi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, mỗi hợp tác xã thêm khâu sơ chế phụ phẩm, mỗi doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ sinh học thì từ chiếc lá chuối, bẹ ngô, lá tre... có thể tạo nên ngành công nghiệp phụ trợ xanh, vừa bảo vệ môi trường, vừa phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Tất nhiên, để những sản phẩm như “lá tre xuất khẩu” hay “sợi chuối sinh học” đi xa hơn vẫn cần vượt qua nhiều rào cản về hạ tầng logistics, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, chứng nhận chất lượng, chi phí kiểm định. Nhưng bài toán không nằm ở sản lượng, mà ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Khi nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà khoa học cùng ngồi lại, phụ phẩm sẽ không còn là phần thừa, mà là khởi đầu của dòng sản phẩm mới gắn liền với phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn sạch.
Chiếc lá tre hôm nay có thể dùng để gói bánh, đựng thức ăn, nhưng câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó, mà còn gợi mở hướng phát triển mới cho nông nghiệp Hải Phòng. Những nguyên liệu tưởng như bỏ đi được chế biến thành sản phẩm hữu ích, nông nghiệp thành phố không chỉ làm ra lương thực, thực phẩm mà còn tạo ra giá trị môi trường và xã hội.