Những người ‘se duyên’ hạnh phúc
Từ buồng cau, lá trầu đến tấm chiếu cói, có những con người âm thầm ‘se duyên’ cho bao đôi uyên ương qua chính đôi tay lao động của mình.

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”
Người xưa có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Trong nghi lễ cưới hỏi, quả cau, lá trầu không chỉ là sính lễ mà còn là biểu tượng kết duyên. Và những người gắn bó cả đời với nghề trồng, hái, buôn trầu cau trở thành “người se duyên hạnh phúc” cho bao đôi trẻ.
.jpg)
Bà Trần Thị Chanh (65 tuổi), quê ở xã Hà Bắc thoăn thoắt chọn những buồng cau tròn, ngắn, râu đẹp cho tráp lễ cưới. Gắn bó với nghề buôn cau từ năm 1990, bà Chanh đã có hơn 35 năm “bán hạnh phúc” cho các đôi uyên ương.
“Cau quê nhà tôi được mùa nhất từ tháng 8 đến Tết âm lịch. Hết vụ, tôi lại đi lấy cau từ Thủy Nguyên hay miền Nam ra. Buồng cau cưới phải to tròn, hai bên cân đối, số quả là số lẻ. Khách kỹ tính còn dặn không được dùng dao cắt mà phải xé tay”, bà Chanh nói.
Hồi còn trẻ, những ngày cao điểm mùa cưới, bà trèo, hái hàng chục cây cau mỗi ngày. “May mắn là chưa lần nào bị ngã”, bà nói. Bây giờ sức yếu, bà vẫn buôn bán cau, nhưng đã ít trèo cây, đồng thời bà chuyển sang têm trầu cánh phượng, làm tráp cưới.

Với kinh nghiệm 35 năm, bà cho biết: “Lễ xin dâu có 9 quả cau, 9 lá trầu, lễ ăn hỏi phải có 1 buồng cau và 5 - 7 tay trầu, tương ứng 150 lá. Cau cưới phải là cau sung, quả tròn, bóng, đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc viên mãn”.
Những buồng cau, lá trầu bình dị là cầu nối cho bao cuộc hôn nhân. Cũng vì thế, bà Chanh là “bà mối” trao gửi sính lễ cho biết bao đôi uyên ương.
“Mỗi khi nhìn thấy đám cưới có buồng cau mình chọn, tôi lại thấy vui lắm. Như thể mình cũng góp chút duyên vào hạnh phúc của họ”, bà nói.
Khung cửi dệt nên tấm chiếu hạnh phúc
Cũng ở Hải Phòng, tại thôn Tiên Kiều (xã Hà Đông), tiếng kẽo kẹt khung cửi vẫn vang đều trong căn nhà nhỏ của vợ chồng ông Phạm Văn Thiếu và bà Nguyễn Thị Khuyên. Hơn nửa thế kỷ qua, hai ông bà vẫn ngồi cạnh nhau, một người “chao”, một người “dệt”, đôi tay nhịp nhàng luồn từng sợi cói, sợi đay, đan vào nhau như chính tình nghĩa vợ chồng son sắt.
“Nghề này phải có đôi. Không ai dệt chiếu một mình được. Người vợ "chao" thì người chồng "dệt", ăn ý từng nhịp. Thiếu một người là không thành chiếu”, ông Thiếu cho biết.
Sinh ra trong tiếng kẽo kẹt khung cửi, ông Thiếu nối nghề từ cha ông để lại, đến nay đã hơn 50 năm gắn bó. Bà Khuyên cũng dệt chiếu từ nhỏ, ông bà lấy nhau rồi cùng chung nghề, chung khung. “Hồi còn trẻ, ngày nào cũng dệt đến khuya. Giờ con cái lớn, sức khỏe yếu, chỉ dệt khi khách đặt”, bà kể.

Chiếu cói Tiên Kiều được làm thủ công hoàn toàn, từ sợi cói và sợi đay. Cói được trồng ở vùng nước ngọt, thân mềm, sợi dai, mùi thơm tự nhiên, được gọi là “cói cơm”. Người làng chọn cây cói tròn, sợi óng, khi ruộng chuyển từ xanh sang vàng là lúc thu hoạch. Sau khi phơi, cói được chẻ, đập, nhuộm, rồi dệt thủ công. Một đôi chiếu hoàn thiện phải trải qua hàng chục công đoạn, hấp chín, phơi 3 đến 5 sương nắng mới ra thành phẩm.
Chiếu Tiên Kiều có nhiều kích cỡ, phổ biến 1,3 x 1,9 m đến 1,6 x 1,9 m, giá từ 450.000 - 500.000 đồng/đôi. Mỗi đôi chiếu được dệt bằng tất cả sự khéo léo và tình cảm của hai người. Từ lâu, chiếu Tiên Kiều đã là vật không thể thiếu trong ngày cưới, chiếc chiếu trải giường tân hôn cho đôi vợ chồng trẻ, tượng trưng cho sự ấm êm, hòa thuận.
Ngày xưa, khách đến đám cưới thường tặng đôi chiếu hoa. Trước khi động phòng, gia chủ phải chọn người trải chiếu, phải là người có gia đình viên mãn. Nhiều người tin rằng, chiếu đẹp, người trải hiền, thì hạnh phúc vợ chồng sẽ bền lâu.
Nghề dệt chiếu đã đi vào thơ ca, nhạc họa. Như trong bài hát “Nắng ấm quê hương” có đoạn “Em dệt đôi chiếu hoa/ Cho anh trải giữa nhà/ Mời thầy mẹ sang chơi/ Để anh thưa/ Để anh thưa”.
Từng có thời, Tiên Kiều được gọi là “thủ phủ chiếu cói” của vùng. Trước năm 2010, gần 80% trong hơn 800 hộ dân trong làng sống bằng nghề dệt. Mùa cói chín, cả làng rộn ràng tiếng chẻ, tiếng đập, tiếng dệt, xe chở chiếu nối đuôi nhau rời làng. Nhờ nghề này, nhiều gia đình có của ăn của để, nuôi con ăn học.
Nhưng rồi cói dần bị thay thế bằng vật liệu công nghiệp. Tiếng khung cửi thưa dần. Giờ chỉ còn ít hộ như gia đình ông Thiếu, bà Khuyên giữ nghề. “Mỗi tấm chiếu mình làm ra không chỉ là sản phẩm, mà còn là kỷ niệm, là tình cảm. Mình dệt chiếu cũng như dệt đời mình, từng sợi, từng nhịp, chẳng thể tách rời”, bà Khuyên nói.

Từ buồng cau đến tấm chiếu, những hình ảnh tưởng chừng giản dị mà chứa đựng trong đó bao tầng ý nghĩa về tình yêu, hạnh phúc và sự gắn bó. Và những người gìn giữ các nghề ấy như bà Chanh, ông Thiếu, bà Khuyên không chỉ đang mưu sinh, mà còn se duyên, giữ nếp đẹp văn hóa cho đời sau.
Và hạnh phúc luôn bắt đầu từ những điều nhỏ bé, từ quả cau tròn, lá trầu xanh hay tấm chiếu cói được dệt bằng hai bàn tay và một tấm lòng.