Độc lạ sĩ tử 82 tuổi thời phong kiến Việt Nam
Đoàn Tử Quang là sĩ tử hiếm có thời phong kiến Việt Nam, đi thi khi đã 82 tuổi.

Đi thi ở tuổi xưa nay hiếm
Đoàn Tử Quang sinh năm 1818, quê ở làng Phụng Đạt, xã Phụng Công, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), là con thứ hai của ông Đoàn Nhuyện (biệt hiệu Liệt Giang cư sĩ) và bà Lê Thị Nậm.
Mồ côi cha từ nhỏ, Đoàn Tử Quang được mẹ khuyến khích học hành, theo đuổi khoa cử. Dù chăm chỉ nhưng ông thi nhiều lần không đỗ. Tới năm 49 tuổi, lần đầu tiên ông thi đỗ tú tài. Lần thứ 2 ông đỗ tú tài khi 66 tuổi. Trước khi đậu cử nhân, ông đã đi thi tổng cộng 21 lần.
Vào khoa thi Canh Tý năm 1900, Đoàn Tử Quang không có ý định đi thi vì tuổi quá cao (khi ấy ông 82 tuổi). Tuy nhiên, do làng ông không có thí sinh nào dự thi nên các vị chức sắc của làng đã động viên Đoàn Tử Quang đi thi. Không thuyết phục được ông, các chức sắc phải đến khuyên nhủ Lê Thị Nậm là mẹ của Đoàn Tử Quang (khi đó đã gần 100 tuổi) để bà cụ hối thúc con đi thi. Vốn là người hiếu nghĩa, ông tuân lời mẹ, lều chõng đến trường thi.

Qua 4 kỳ thi, Đoàn Tử Quang đạt kết quả hai ưu, hai thứ, chỉ kém thủ khoa Phan Bội Châu một ưu nhưng phạm một sơ suất nhỏ trong quy định của trường thi nên bị đánh hỏng. Quan chánh chủ khảo cảm phục chí học hành bền bỉ hiếm có xưa nay của ông nên đã tấu về triều xin cho ông đỗ (xếp thứ 29 trong 30 người đỗ).
Việc một ông lão 82 tuổi dự thi đã được Chánh Chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh và Phó Chủ khảo Mai Khắc Đôn ghi chép lại thành chuyện dưới đầu đề "Mẩu chuyện hay được ghi lại ở Trường Thi" trong sách "Khoa Canh Tý" như sau: “Ông lão và tôi rời khỏi ghế, cầm tay ông lão cùng đi mà rằng: Đẹp làm sao! Thọ làm sao! Chí khí cao mà kiên định vậy! Xin hỏi mắt cụ có bị mờ không? Ông lão trả lời: Có bị mờ. Tôi lại hỏi: Chân gối cụ có bị mỏi không? Ông lão đáp: Còn có thể đi bộ, chạy, lễ, bái, đưa, đón được.
Ông lão mang ống quyển vào, xét số, hạ lều, xong ngồi ngay ngắn ở giữa chiếu của mình. Trời về chiều khi đã vài ba chục thí sinh nộp bài thì ông lão vai mang ống quyển, tay kéo xe lều chõng lọc cọc, cùng các thí sinh kẻ trước người sau ra về...
Vào phúc hạch, viên đề tuyển đưa danh sách thông báo ra ngoài. Tên ông lão có trong số đó. Đến khi đưa quyển vào phúc duyệt, không hề bài nào có chữ đậm nhạt không đúng kiểu hoặc bị nghiêng đổ. Sau khi khớp phách nên biết quyển bài của ông lão về tài năng, ưu; thơ phú, ưu; Văn sách thứ; phúc hạch, trung bình...”.
Khi trở về vinh quy bái tổ, Tổng đốc Nghệ An khi ấy là Đào Tấn đã cảm tác bài thơ tặng Đoàn Tử Quang:
Khá lắm Hương Sơn Đoàn tú tài
Xuân xanh vừa đúng tám mươi hai
Trường văn múa bút râu như mác
Quế đỏ cành thơm cướp vác vai
Ung dung chống gậy tới Nam cai
Nhà huyên tuổi hạc chín mươi tám
Giờ thấy con ta đắc ý rồi.
Thủ khoa kỳ thi đó là Phan Bội Châu cũng cảm phục và sáng tác bài ca tặng ông và đôi câu đối:
"Xảo thật trời kia, xảo thật nguyệt kia, hẵng đem mùi cay đắng thử khách tài hoa, đã toan phụ tám mươi năm nợ nần thư kiếm;
Lạ thay người ấy, sướng thay người ấy, muốn ôm mớ văn chương về trả tạo hóa, mà lại xem muôn ngàn dặm cái phong vân".
Đặc cách bổ dụng làm quan
Sau khi đỗ, được xướng tên, ông "dạ" và đi vào, đầu tóc bạc phơ. Các quan khách, quan tỉnh cầm tay khen ngợi hồi lâu. Khi được cấp mũ áo ra trình diện, bái ân (lạy ơn vua), bái tứ (lạy tạ được nhận lộc vua), bái yến (lạy tạ khi được ngồi vào bàn tiệc), không hề thấy ông xiêu vẹo.

Quan trường rất cảm phục và xúc động khi nghe chuyện 3 người con trai của ông năm ấy không được dự thi vì mẹ (vợ cả Đoàn Tử Quang) vừa mất. Thời xưa, theo luật "đoạn tang", đang có tang cha, mẹ, con không được đi thi. Bản thân Đoàn Tử Quang đi thi là để mẹ già gần 100 tuổi của ông an lòng.
"Khi mẹ tôi 17, trời đoạt mệnh cha tôi. Mẹ tôi thủ tiết thờ chồng, nuôi con, đinh ninh con trẻ mồ côi sẽ đỗ... cho đến khi tôi thành niên, vua Tự Đức xuống chiếu ban khen những người đàn bà trinh tiết. Mẹ tôi được thưởng 15 lạng bạc. Mẹ tôi bảo tôi: Từ ngày mẹ về làm dâu ở gia đình này, mẹ chưa từng thấy cha con bỏ đọc sách một ngày nào, có chí mà chưa có toại. Con cần phải học làm gương cho con cháu nối đời noi theo…”, Đoàn Tử Quang nói với quan trường.
Khi ấy, dưới triều Nguyễn, theo quy định, các quan tới tuổi 65 sẽ hồi hưu. Song để đền đáp và khuyến khích ý chí và nghị lực phi thường của Đoàn Tử Quang nên triều đình vẫn đặc cách bổ dụng làm quan.
Từ năm 1901 tới năm 1903, ông được cử làm chức huấn đạo huyện Hương Sơn, rồi huấn đạo huyện Can Lộc. Năm 85 tuổi, ông xin về hưu để phụng dưỡng mẹ già khi ấy đã trên 100 tuổi. Vào năm 1924, khi ông thượng thọ 106 tuổi, triều đình phong hàm Hàn lâm viện thị độc tặng ông.
Ông mất vào năm 1928, thọ 110 tuổi. Cả cuộc đời ông từ khi sinh ra vào đời Gia Long - vua đầu tiên nhà Nguyễn đến khi mất vào đời Bảo Đại - vua cuối cùng của triều đại này.
Đoàn Tử Quang là trí thức khoa bảng có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Việt Nam (bên cạnh tiến sĩ Nguyễn Xuân Chính thọ 107 tuổi và tiến sĩ Nguyễn Như Đổ thọ 102 tuổi).