Giếng làng neo giữ hồn quê
Giữa nhịp sống hiện đại, hình ảnh giếng làng vẫn là mạch nguồn ký ức, biểu tượng văn hoá lưu giữ hồn quê trên mảnh đất Hải Phòng.

Cây đa, giếng nước, sân đình
Theo quan niệm dân gian, giếng nước tượng trưng cho sự dồi dào và sức sống của dân làng. Khi chưa có nước máy hay giếng khoan, giếng làng là nơi cung cấp nước sinh hoạt, là điểm hẹn của cộng đồng. Vào dịp Tết, người dân múc nước giếng trong vắt về luộc bánh chưng, luộc gà, rửa mặt sáng mùng 1 như một nghi thức gột rửa cái cũ, đón điều lành trong năm mới.
“Giếng làng xưa đâu chỉ là chỗ lấy nước. Đó là nơi mọi người gặp gỡ, trò chuyện, là chốn lưu giữ bao câu chuyện, truyền thuyết, thậm chí cả tín ngưỡng của làng quê”, bà Nguyễn Thị Hòa, 74 tuổi, ở xã Yết Kiêu kể.
Ở các làng cổ Hải Phòng, giếng làng thường nằm gần đình, chùa, nơi hội tụ linh khí đất trời. Giếng Rồng trước cửa chùa Diên Phúc (làng Mộ Trạch, xã Đường An) là một trong những giếng cổ ở nước ta. Giếng có mạch nước ngầm mạnh, quanh năm đầy ắp dù năm đó có đại hạn. Tương truyền, hễ trước mỗi khoa thi mà cá to nổi lên mặt nước, làng Mộ Trạch ắt có người đỗ đạt cao. Vì vậy dân gian mới truyền câu “Tam Sơn rắn hiện, Mộ Trạch cá nổi”. Người dân tin rằng sự thông minh, học giỏi của con em làng là nhờ nguồn nước long mạch chảy qua giếng Rồng, nơi hội tụ tinh hoa đất trời.
.jpg)
Theo dòng thời gian, nhiều giếng cổ ở Hải Phòng bị bồi lấp, ô nhiễm hoặc xuống cấp. Nhưng với tình yêu và ý thức gìn giữ cội nguồn, người dân nhiều nơi đang nỗ lực phục hồi những giá trị văn hóa gắn liền với giếng làng.
Ở Tổ dân phố Do Nha (phường An Dương), giếng cổ nằm trong quần thể di tích đình, chùa Do Nha, được công nhận là di tích cấp quốc gia từ năm 2007. Theo ông Nguyễn Đình Thuần, Tổ trưởng Tổ dân phố, rất khó xác định tuổi của giếng. “Chỉ biết rằng từ đời ông cố tôi, giếng đã ở đó rồi”, ông Thuần nói.
Xưa kia, người dân đặt một gia đình chó đá bên bờ giếng để canh giữ đất, nên gọi là giếng Chó Đá. Tháng 4/2025, người dân Do Nha cùng nhau góp công, góp của để tôn tạo giếng làng trên nền đất cũ. Giếng nay rộng 800 m², bờ kè đá xanh, giữa có đài phun nước bằng đá thạch tím, chung quanh trang trí hoa sen nở rộ. Nhìn từ xa, đài phun nước như bông sen ba tầng vươn nở giữa lòng giếng, biểu tượng cho sự hồi sinh của truyền thống giữa lòng phố thị.
“Giếng làng không chỉ là công trình thủy lợi, mà là mạch nguồn kết nối con người với quê hương. Khi khơi lại giếng, chúng tôi như khơi lại ký ức của cả làng”, ông Thuần chia sẻ.
Mạch nguồn văn hoá
Không chỉ ở Do Nha, làng Ngọc Quyết (xã Cẩm Giàng) cũng lưu giữ một giếng đất nung có từ thế kỷ 17. Theo các nhà khảo cổ, hoa văn trên gạch giếng thể hiện phong cách nghệ thuật riêng biệt, cánh sen rộng, màu đậm, có thể do nghệ nhân các làng gốm Chu Đậu hoặc Cậy chế tác. Người dân còn lập miếu thờ ngay bên giếng, thể hiện sự trân trọng nguồn nước đã nuôi dưỡng bao đời sinh kế.
Tại làng Phương Xá (xã Yết Kiêu), giếng làng nằm ngay cổng làng cổ. Ông Đoàn Văn Thơ, 88 tuổi, nhớ lại: “Hồi nhỏ, tôi với lũ bạn chiều nào cũng ra giếng tắm, có hôm trèo lên cổng làng nhảy ùm xuống nước. Các mẹ, các chị đi làm đồng về cũng ghé qua giếng rửa tay, rửa chân, giặt áo. Giếng làng khi ấy là nơi vui nhất của làng”.
.jpg)
Còn ở làng Thạch Lỗi, giếng ăn của làng từng được đắp bằng đất. Đến năm 2000, dân làng tự góp tiền gạch xây lại, kè chắc chắn. Ông Đỗ Hữu Huỳnh, gần 70 tuổi kể: “Từ đời cụ tôi đã có giếng rồi. Chúng tôi giữ nó như giữ linh hồn của làng. Nước giếng trong lắm, ai đi xa cũng nhớ”.
Giếng làng không chỉ là nơi cung cấp nước, mà còn là nơi diễn ra biết bao hoạt động sinh hoạt, phong tục, lễ hội. Nhiều nghi thức dân gian như lễ rước nước, tắm Phật, hay lấy nước đầu năm đều gắn liền với giếng làng. Đó là biểu hiện sinh động của tín ngưỡng thờ nước, một nét văn hóa đặc trưng trong tâm thức người Việt.
Ngày nay, khi các khu dân cư mọc lên san sát, nước máy phủ kín từng hộ, giếng làng không còn vai trò thiết yếu về sinh hoạt, nhưng giá trị tinh thần thì vẫn nguyên vẹn. Mỗi giếng cổ là một chứng nhân lịch sử, nơi giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống.
Như lời ông Huỳnh nói: “Chúng tôi muốn con cháu hiểu rằng, giữ giếng là giữ ký ức, giữ gốc làng”.
Ở nhiều vùng nông thôn mới của Hải Phòng, phong trào phục hồi, tôn tạo giếng cổ ngày càng lan tỏa. Cùng với đình, chùa, cổng làng, giếng làng đang được nhìn nhận như một phần không thể tách rời trong không gian văn hóa truyền thống. Mỗi lần giếng được tôn tạo, là mỗi lần người dân thêm một lần gắn kết.
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng cao, người dân càng có điều kiện để chăm chút cho những giá trị tinh thần. Việc phục dựng giếng làng không chỉ làm đẹp làng quê, mà còn khơi dậy tình yêu quê hương, ý thức hướng về cội nguồn./.