Nhà thơ Thanh Tùng - hồn thơ hào sảng của đất Cảng
Nhà thơ Thanh Tùng là một gương mặt nổi bật của thi ca đương đại Việt Nam với giọng thơ giàu cảm xúc và đậm dấu ấn đời sống.

Nhà thơ Thanh Tùng tên thật là Doãn Tùng, sinh năm 1935, quê ở Nam Định nhưng lớn lên ở thành phố Cảng Hải Phòng. Trước khi đến với thơ, ông làm nhiều nghề, từ khuân vác đến công nhân nhà máy đóng tàu, bán sách vỉa hè. Trong bài thơ "Hải Phòng - Muối của đời tôi", ông viết: “Tôi làm thơ từ sau xe bò chở gạch/ Đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm”.
Nhắc đến Thanh Tùng là nhắc đến một hồn thơ mang đậm khí chất của đất Cảng Hải Phòng, vừa cuồng nhiệt sôi nổi dữ dội vừa mê mải đắm say. Điều này rất đúng với khí chất của thi sĩ, một người đàn ông với vóc dáng to khỏe, hào sảng, từng làm những công việc nặng nhọc nhất để kiếm sống nhưng tâm hồn luôn phóng khoáng. Một số tác phẩm của ông bao gồm: “Con sông chảy từ lòng phố”; “Cửa sóng”; “Gió và chân trời”; “Khúc hát quê xa”; “Cái ngày xưa ấy”; “Thuyền đời “...
Đặc biệt, hành trình thơ của Thanh Tùng không thể không nói tới thơ tình, bởi đây là một mảng thơ đặc biệt ghi dấu ấn sâu lắng và nồng nhiệt của một tâm hồn thi sĩ cháy bỏng yêu thương và luôn tụng ca cái đẹp. Trong đó, bài thơ “Thời hoa đỏ” đọng lại như một trong những bài thơ tình hay nhất của thi ca đương đại Việt Nam và được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc. Lời thơ nồng nàn, da diết, sâu lắng ấy được giai điệu chắp cánh để rưng rưng trên môi biết bao thế hệ sinh viên, biết bao đôi lứa từng đắm say: “Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/ Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa/ Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cái mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ…”.
Ở những bài thơ tình như thế, nhịp điệu dài ngắn của câu thơ lại phụ thuộc vào nhạc điệu nội tại của những tâm sự mà nhà thơ muốn gửi gắm, muốn truyền tải như trong một bài thơ viết về "Hà Nội ngày trở về" của ông đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc.
Riêng viết về Hải Phòng ông có tới năm bài: “Hải Phòng lúc ra đi”, “Ở ga Hải Phòng”, “Hải Phòng hôm nay”, “Hải Phòng - Muối của đời tôi” và “Quê hương”. Hải Phòng không chỉ lưu dấu ký ức tháng năm trong trái tim nhà thơ về hơi thở đời sống cần lao nhọc nhằn, lấm láp của thành phố “Tiếng búa khắc vào hồn phố nhỏ/ Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường” cùng với “Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau”, mà còn thắp lên một tình yêu không bao giờ nguôi cũ trong đời thơ phiêu bạt của ông.
Nếu như Hải Phòng lúc ra đi là bài thơ đánh dấu ngày ông rời xứ Cảng vào phương Nam với những câu thơ cắt ruột: “Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát lên tôi mặn chát/ Mai tôi đi rồi/ Để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố/ Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường… Rồi mai đây ở bất cứ nơi nào/ Tôi cũng chỉ thấy mình chen chân trên đường Cầu Đất” thì "Quê hương" là bài thơ của nỗi nhớ cồn cào khôn nguôi: “Tôi vẫn tin có một ngày trở lại/ Bao già nua trút ở ngoại ô/ Để chạy lại với bàn chân tinh khiết/ Phố Hàng Cau rồi phố Hàng Song/ Những đường phố trong như nước mắt… Tôi sẽ về, tôi sẽ về/ Nhưng không thể là xơ xác/ Bởi quê hương bóng mẹ vẫn xanh rờn”.
Có lẽ, trái tim nhà thơ như một bảo tàng trữ tình của những hình ảnh kỷ niệm thân thương về Hải Phòng, cũng là nơi chất chứa những xúc động yếu đuối mà chân thành khi ông phải chia tay thành phố trước một chuyến đi rất xa về phương trời khác.
Nhà phê bình văn học Lê Thiếu Nhơn từng nhận xét: “Thanh Tùng khác biệt những nhà thơ công nhân cùng trang lứa. Bên cạnh cái thô ráp, Thanh Tùng có cái phiêu lãng và cái phóng túng của một kẻ dường như chỉ sinh ra để đóng vai thi sĩ, dẫu năm tháng lao động chân tay nhọc nhằn. Đọc thơ Thanh Tùng giống như bước vào một vùng cảm xúc mâu thuẫn, giữa sự ngang tàng và sự yếu đuối, giữa sự tinh tế và sự vụng về, giữa sự mạnh mẽ và sự dở dang”./.