Về ăn một bát cơm quê
Những ngày tha hương, lòng tôi lúc nào cũng nhớ quê, thèm được trở về ăn một bữa cơm quê nhà.

Ngày còn nhỏ ở quê, không chỉ riêng tôi mà hầu như đứa trẻ con nào cũng thế: luôn khao khát được “thoát li” khỏi lũy tre làng. Mười tám, đôi mươi, những đứa trẻ năm xưa lớn lên rồi lần lượt rời làng mang trong mình nhiều niềm ước vọng. Đứa đi học, đứa lập nghiệp, mỗi đứa một xứ, bôn ba khắp mọi phương trời. Thời gian vô tình cuốn trôi cộng thêm với hàng trăm nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền đã đẩy xa khoảng cách với quê hương. Những ngày tha hương, lòng tôi lúc nào cũng nhớ quê, thèm được trở về ăn một bữa cơm quê nhà.
Bữa cơm quê nhà với tôi là bữa cơm thiêng liêng hơn bất cứ bữa cơm nào trên đời. Dẫu đó là bữa cơm đạm bạc hay đầy đủ thịt cá. Bởi bữa cơm quê nhà sẽ luôn có bóng hình mẹ cha, có anh em ruột thịt thân thương. Đã gần hai mươi năm trôi qua nhưng tôi vẫn còn nhớ rất rõ từng dáng vẻ, thói quen của mỗi thành viên trong gia đình. Mẹ vẫn thường giành ngồi ở phía đầu nồi cơm để bới cơm cho mọi người. Lưng mẹ hơi gù cũng bởi vì mấy chục năm làm lụng, gồng gánh với ruộng đồng. Cha thì ngồi khoanh chân gọn ghẽ, thuận tay trái. Thằng em út tôi loi nhoi lúc ngồi bệt, lúc lại ngồi xổm...
Những năm tuổi thơ tôi lớn lên vẫn chưa có điện, nấu ăn đều phải dùng bếp củi. Chái bếp bên hông nhà cha tôi chất đầy củi khô và rơm rạ khô. Có khi là thân cây ngô đã phơi khô nữa. Những bữa ăn tốn nhiều thời gian hơn khi phải nấu bằng bếp củi. Có thể nhiều người không nhận ra nhưng cơm nấu bằng bếp củi sẽ khác với cơm nấu bằng nồi cơm điện rất nhiều. Những lần nấu mùi cơm lại khác nhau. Không phải do thay đổi loại gạo mà lý do chính từ củi đốt. Khói củi bằng một cách nào đó đã lẩn quất vào trong những hạt gạo tạo nên một mùi vị rất riêng. Khi thì cơm có mùi khói hăng nhẹ, lúc lại thoang thoảng thơm mùi đồng nội.
Tôi đặc biệt để ý tới bữa cơm quê gạo mới. Cơm gạo mới luôn có một hương vị đặc biệt, hạt cơm cũng dẻo thơm bội phần. Tôi có thói quen mỗi lần nấu cơm gạo mới thể nào cũng chêm thêm nước, đợi cơm sôi thì chắt ra một bát nhỏ dành để uống. Nước cơm gạo mới đặc sánh, có vị ngọt tự nhiên, chẳng cần thêm đường, đợi nguội một chút là tôi có thể uống ngay. Bát nước cơm giống như một thức quà quý giá mà có lẽ suốt đời này tôi không quên được. Cơm nấu gạo mới ăn rất “tốn cơm” (nói theo cách của mẹ tôi hay đùa). Mặc dù đã căng no bụng nhưng dường như ai cũng muốn ăn thêm nữa.
Bữa cơm quê thời nghèo khó không có bóng dáng sơn hào hải vị, nhưng với tôi vẫn ngon môt cách lạ kì. Thường thì thức ăn của gia đình tôi chủ yếu là rau cỏ vườn nhà, tôm cá dưới ao hoặc bắt ở đồng ruộng. Hiếm khi lắm mẹ đi chợ mới mua được dăm ba lạng thịt lợn. Cách nấu của mẹ cũng giản đơn, chẳng cầu kì. Những món ăn cứ lặp đi lặp lại năm này qua năm khác nhưng anh em tôi vẫn không biết chán.
Bữa cơm quê không chỉ đơn giản chỉ là ăn mà còn là nơi những đứa con thấm nhuyễn bao bài học từ bậc mẹ cha. Cha mẹ dạy cho anh em chúng tôi phải biết học ăn học nói, học gói học mở, nhường cơm sẻ áo, kính trên, nhường dưới, ăn trông nồi, ngồi trông hướng… Nghĩa là phải biết kính trên nhường dưới, có miếng gì ngon cần chú ý để phần cho người khác, không dành lấy ăn hết. Mỗi bữa cơm là sự kết nối, nhân lên tình cảm gia đình và là lúc để mọi thành viên thể hiện tình cảm với nhau. Cách giáo dục tôi thấy không chỉ áp dụng từ thời thơ bé mà khi lớn lên tôi vẫn còn thấy hiệu nghiệm và học tập theo.
Đời người thật hạnh phúc khi có nơi chốn để trở về và càng hạnh phúc hơn nữa khi có đủ đầy mẹ cha, người thân quây quần bên mâm cơm gia đình. Cho dù ta có xuôi ngược nơi đâu thì lòng lúc nào cũng hướng về quê nhà như câu ca: “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt. Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”.