Hệ lụy lâu dài từ mất cân bằng giới tính khi sinh
Việc nới lỏng chính sách dân số mở ra nhiều cơ hội ứng phó mức sinh thấp, song cũng đặt Hải Phòng trước không ít thách thức trong kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.

Hải Phòng đang bước đi cùng cả nước trong điều chỉnh chính sách dân số theo hướng linh hoạt, nhân văn hơn, nhằm ứng phó với thực trạng mức sinh thấp và già hóa dân số diễn ra nhanh. Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở thành phố vẫn ở mức đáng lo ngại.
Số liệu năm 2025 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh của Hải Phòng là 113,5 bé trai/100 bé gái, vẫn cao hơn nhiều so với mức cân bằng sinh học tự nhiên (khoảng 104-106 bé trai/100 bé gái). Thực trạng mất cân bằng tỷ lệ bé trai/bé gái này đặt Hải Phòng vào nhóm địa phương cần đặc biệt quan tâm trong công tác kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
Thực tế cho thấy, mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng bé trai nhiều hơn bé gái như hiện nay tại thành phố là hệ quả cộng hưởng của nhiều nguyên nhân mang tính cấu trúc xã hội.
Trước hết, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” tuy không còn bộc lộ gay gắt nhưng vẫn tồn tại dai dẳng trong nếp nghĩ của một bộ phận người dân, nhất là ở khu vực ven đô, nông thôn. Quan niệm “có con trai để nối dõi, chăm lo cha mẹ, giữ gìn hương hỏa” tiếp tục chi phối quyết định sinh con, đặc biệt trong bối cảnh quy mô gia đình ngày càng thu hẹp.
Sự phát triển nhanh của dịch vụ y tế và kỹ thuật chẩn đoán trước sinh, trong khi công tác quản lý chưa theo kịp đã vô tình tạo kẽ hở cho hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Việc xử lý vi phạm còn khó khăn, chế tài chưa đủ sức răn đe khiến quy định pháp luật chưa thực sự đi vào đời sống.
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ để lại nhiều hệ lụy. Dự báo dân số cho thấy trong tương lai, tình trạng thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn sẽ kéo dài nhiều thập kỷ, tạo ra áp lực lớn đối với cấu trúc gia đình và trật tự xã hội.
Trong báo cáo “Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024 - 2074” do Cục Thống kê công bố mới đây đưa ra thông tin dự báo Việt Nam thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn vào năm 2049, để lại khoảng trống lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội.
Đáng chú ý, Luật Dân số có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và chính sách dân số của Việt Nam theo hướng nới lỏng, linh hoạt và nhân văn hơn, nhằm duy trì mức sinh thay thế.
Luật quy định mỗi cá nhân, cặp vợ chồng có quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh trên cơ sở bình đẳng, phù hợp với điều kiện sức khỏe, học tập, lao động và nuôi dạy con.
Để quy định này trong thời gian tới phát huy đúng ý nghĩa, không để xảy ra tình trạng lợi dụng bằng mọi cách cố đẻ con trai, làm trầm trọng hơn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, thành phố cần triển khai các biện pháp cụ thể gắn với đặc thù một đô thị công nghiệp cảng biển.

Đó là triển khai việc truyền thông thay đổi nhận thức đi đúng đối tượng, đúng không gian xã hội. Với lực lượng công nhân, lao động trẻ đông đảo, Hải Phòng cần đẩy mạnh truyền thông bình đẳng giới ngay tại khu công nghiệp, doanh nghiệp, thông qua công đoàn cơ sở, đối thoại định kỳ, sinh hoạt chuyên đề gắn với quyền lợi người lao động.
Nội dung truyền thông cần chuyển từ “khẩu hiệu” sang phân tích hệ lụy cụ thể của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với chính gia đình và tương lai con cái, đồng thời tôn vinh giá trị của trẻ em gái bằng những câu chuyện thật, mô hình thật ngay tại địa phương.
Đưa nội dung chia sẻ trách nhiệm sinh sản, nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình vào các lớp tiền hôn nhân, sinh hoạt tổ dân phố, đoàn thể nam giới. Khi nam giới thay đổi nhận thức, áp lực “phải sinh con trai” lên phụ nữ sẽ giảm đi rõ rệt, đây chính là giải pháp mang tính gốc rễ.
Một giải pháp gián tiếp đó là lồng ghép chính sách an sinh xã hội với mục tiêu bình đẳng giới. Khi người dân, nhất là ở khu vực ven đô, nông thôn, cảm thấy tuổi già được bảo đảm bằng chính sách bảo hiểm, chăm sóc xã hội, áp lực “trông cậy vào con trai” sẽ giảm.
Cuối cùng, thành phố cần coi kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh là tiêu chí phát triển bền vững, gắn trách nhiệm cho từng địa phương, từng ngành, thay vì coi đó là việc riêng của ngành dân số.