Đời sống văn hóa

Công nghiệp văn hóa trở thành mũi nhọn chiến lược

NGUYỄN MẠNH (tổng hợp) 25/01/2026 - 16:50

Với Nghị quyết 80-NQ/TW, Việt Nam chính thức coi công nghiệp văn hóa là mũi nhọn để thúc đẩy sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

nham-duong-8.jpg
Chùa Nhẫm Dương (phường Nhị Chiểu, Hải Phòng) là một trong 5 di tích thuộc quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc vừa được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa thế giới.

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới được Bộ Chính trị ban hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới của nền văn hóa dân tộc. Đây được ví như “bản thiết kế tổng thể” để chuyển hóa tài nguyên văn hóa đồ sộ thành sức mạnh quốc gia, đưa văn hóa thấm sâu vào mọi ngõ ngách đời sống, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho khát vọng phát triển hùng cường. Đây cũng là lần đầu tiên, công nghiệp văn hóa được coi là mũi nhọn chiến lược để Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa

Một trong những điểm đột phá của Nghị quyết 80 là coi văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, có khả năng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong tinh thần đó, công nghiệp văn hóa được xác định là con đường tất yếu để chuyển hóa các giá trị, tài nguyên văn hóa và sức sáng tạo của con người Việt Nam thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế cao, đồng thời lan tỏa bản sắc dân tộc.

Nghị quyết nhấn mạnh: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp văn hóa chính là “quyền lực mềm” để các quốc gia khẳng định vị thế. Sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới cùng sự xâm nhập của sản phẩm ngoại lai đặt ra yêu cầu cấp bách phải phát triển công nghiệp văn hóa trong nước đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Việt Nam không chỉ phát triển công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu trong nước, mà còn hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, âm nhạc... Đây là những lĩnh vực giàu bản sắc và khả năng hội nhập cao nếu được đầu tư chuyên nghiệp.

Lần đầu tiên, một nghị quyết chuyên đề đưa ra các chỉ tiêu định lượng cụ thể. Đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia; xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế. Đồng thời, thành lập thêm từ 1-3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên địa bàn đối tác chiến lược toàn diện; phấn đấu thêm 5 di sản được UNESCO công nhận.

Tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột phát triển bền vững, đóng góp 9% GDP. Việt Nam phấn đấu có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật tầm vóc quốc tế; thêm 8-10 di sản được UNESCO ghi danh; nằm trong tốp 3 khu vực ASEAN và tốp 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) và giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Những mục tiêu này cho thấy công nghiệp văn hóa đã được đặt trong chiến lược dài hạn, gắn chặt với mục tiêu xây dựng quốc gia thu nhập cao.

Các CLB văn hóa, nghệ thuật tích cực tham gia nhiều chương trình giao lưu, biểu diễn của thành phố.
Các câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật tích cực tham gia nhiều chương trình giao lưu, biểu diễn của thành phố.

“Cú hích” lịch sử

Theo Chủ tịch Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam Trần Thị Thu Đông, Nghị quyết 80 là điểm đột phá góp phần “đánh thức” quyền lực mềm quốc gia. Điều này khẳng định văn hóa không chỉ để “thưởng thức” thuần túy mà trở thành ngành kinh tế xanh, góp phần quảng bá thương hiệu và bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định đây là cách tiếp cận hiện thực: văn hóa làm giàu cho tâm hồn đồng thời làm giàu cho đất nước.

Điểm mới mang tính quyết định là việc xác lập vị thế “ngang hàng” của văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội. Bà Trần Thị Thu Đông cho rằng Nghị quyết mang tầm vóc một “cú hích” lịch sử. Văn hóa không còn là yếu tố “đi sau” hay hậu phương, mà là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, được đặt ngang hàng trong mọi quy hoạch phát triển.

Nghị quyết 80 cũng thể hiện sự chuyển đổi căn bản từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”. Thay vì chỉ dựa vào ngân sách, Nghị quyết mở ra cơ chế giải phóng sức sáng tạo toàn xã hội, tạo hành lang pháp lý thu hút nguồn lực xã hội hóa và khuyến khích hợp tác công-tư. Đây là chìa khóa biến giá trị tinh thần thành nguồn lực vật chất thực thụ.

Trọng tâm xuyên suốt của Nghị quyết chính là con người - chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Nghị quyết hướng tới hình thành hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời đại mới, kết hợp truyền thống và tinh hoa nhân loại. Điều này tạo dựng “sức đề kháng” văn hóa trước các trào lưu độc hại.

Bà Trần Thị Thu Đông nhận định Nghị quyết 80 chính là bản thiết kế tổng thể nhằm chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sức mạnh thực chất. Nghị quyết không chỉ đặt ra các chỉ tiêu cụ thể mà còn đề ra nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cùng các quyết sách đột phá, thể hiện quyết tâm đưa văn hóa trở thành sức mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

NGUYỄN MẠNH (tổng hợp)