Dành cho người yêu thơ

Một bài thơ của sứ giả Đại Việt (người Hải Phòng) được Trung Quốc khắc vào bia đá năm 1691, vẫn còn nguyên vẹn

. 09/03/2026 09:15

Tác giả bài thơ là Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1.670) Trần Thọ, người làng Điền Trì, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là xã Trần Phú, thành phố Hải Phòng.

su-gia-2.png
Phó sứ nước An Nam Trần Thọ khi đi qua miếu Trọng Phu Tử đã kính cẩn vào bái yết. Sau đó, ông đề một bài thơ. Bài thơ này được khắc vào bia đá năm 1691, hiện vẫn còn nguyên vẹn (ảnh minh họa do AI tạo).

Trần Thọ, tên chữ là Nhuận Phủ, Bồi tụng, tước Phương Trì Hầu. Ông là nhà thơ, tác giả “Nhuận Phủ thi tập”, hiện còn 3 bài thơ trong “Toàn Việt thi lục ” của Lê Quý Đôn. Ông sinh giờ Hợi ngày 6 tháng 10 năm Kỷ Mão (1639), mất giờ Dần ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn (1700).

Ông là con Dụ Phái Hầu, Hàn Lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, là cha của Tiến sĩ - Tham tụng Thượng thư, Diệu Quân Công, Thượng Trụ quốc Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, là ông nội của Tiến sĩ - Phó đô Ngự sử, Sách Huân Bá Trần Tiến (sau khi mất được truy phong Thượng thư - Từ thời Lê, Phạm Đình Hổ đã ghi Trần Tiến là Thượng thư). Trần Tiến cũng là người sáng lập thể ký tự thuật trong văn xuôi trung đại Việt Nam từ năm 1764, tác giả “Niên phả lục”, “Đăng Khoa lục sưu giảng”... Trần Thọ là cụ nội của Trần Quý - Trợ giáo Thái tử nhà Lê (sách in ghi theo chức là Trần Trợ), tác giả “Tục biên Công dư tiệp kí ”... Các tác phẩm này, đến nay vẫn được tái bản.

Khi vua Lê cử làm Phó sứ đi Trung Quốc, Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ (Thứ trưởng thứ nhất bộ Hộ, phụ trách về đất đai – lãnh thổ, lãnh hải). Nhiệm vụ của ông là đòi lại đất 4 châu: Vị Xuyên, Bảo Lạc, Quỳnh Nhai, Thủy Vĩ ở biên giới phía Bắc, bị nhà Thanh lấn chiếm, trong đó Vị Xuyên còn tên đến ngày nay.

Trên đường về, ngày rằm tháng 7 nhuận, năm Tân Mùi (1691), đoàn sứ bộ qua tỉnh Sơn Đông, ghé thăm đền/miếu Trọng Phu Tử. Trần Thọ đề thơ, được quan sở tại cho khắc vào bia đá.

Đến nay đã 355 năm ( 2026 – 1691), bài thơ trên bia vẫn còn nguyên vẹn. Bài thơ như sau:

Phó sứ nước An Nam Trần Thọ, phụng mệnh đi triều cống, khi đi
qua miếu Trọng Phu Tử, đã vào miếu bái yết và kính cẩn đề một bài thơ:


谒仲夫子庙
Viếng miếu Trọng Phu Tử


得天賦予性剛強,
袨杏初曾遊聖墻.
六藝詩書精旨奧,
四科政事好才長.
巍巍廟貌容儀肅,
歷歷春秋黍稷香.
介使南來思景仰,
河山帶礪久名芳.

Dịch Hán Việt:

Đắc thiên phú dữ tính cương cường,
Huyễn hạnh sơ tằng du Thánh tường.
Lục nghệ thi thư tinh chỉ áo,
Tứ khoa chính sự hảo tài trường.
Uy uy miếu mạo dung nghi túc,
Lịch lịch Xuân Thu thử tắc hương.
Giới sứ Nam lai tư cảnh ngưỡng,
Hà sơn đái lệ cửu danh phương.

Dịch nghĩa:

Trời ban tính tình cương trực
Xuân về áo gấm đi viếng tường Thánh xưa.
Sáu môn thơ hoạ đều rất tinh thông
Bốn khoa chính sự tài năng vẹn toàn.
Miếu cao dáng mạo trang nghiêm
Hương thơm dạt dào quanh năm vào mùa xuân thu
Sứ giả phương Nam đến bái miếu với lòng kính trọng
Non sông bền vững, tiếng tăm lưu truyền.

Dịch thơ:

Cương trực trời ban tính dũng quan
Xuân về áo gấm viếng dung nhan
Họa, thơ sáu loại đều tinh giỏi
Chính sự bốn khoa lại vẹn toàn
Dáng mạo miếu cao lòng kính ngưỡng

Hương thơm ngát tỏa tiết thu sang
An Nam phó sứ vào chiêm bái
Bền vững non sông tiếng khải hoàn

Khang Hy năm Tân Mùi (1691), tiết thu vàng
– tháng bảy nhuận, ngày rằm.


TRẦN NHUẬN MINH dịch
(bản gốc chữ Hán do Đặng Văn Lộc cung cấp)

.