Quốc phòng

Ký ức về những chuyến tàu không số

TUỆ MINH 30/04/2026 09:00

Từ Bến K15 (phường Đồ Sơn), những chuyến tàu không số lặng lẽ rẽ sóng ra khơi, mang theo vũ khí, niềm tin và cả tuổi xuân của những người lính biển chi viện cho miền Nam.

doan-tau-khong-so-2-f3cbd57f20aae1bd18e0c06b1811fd36.jpg
Ông Lưu Đình Lừng cùng các cựu binh thắp nén nhang tại Bến K15, tưởng nhớ đồng đội - những người đã ra đi mãi mãi trên các chuyến tàu không số.

Từ Bến K15 lịch sử...

Tìm đến căn nhà nhỏ của Thượng tá Lưu Đình Lừng, cựu chiến binh tàu không số ở phường Đồ Sơn, vào những ngày cả nước hướng về kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, câu chuyện về một thời tuổi trẻ lại được ông chậm rãi mở ra.

83 năm tuổi đời, 63 năm tuổi Đảng, đôi tai phần nào nghễnh ngãng, nhưng ký ức về những năm tháng lênh đênh trên biển của tuổi đôi mươi vẫn hiện lên rõ ràng trong ông.

Khi ấy, ông là chiến sĩ thuộc Đoàn 125 Quân chủng Hải quân, đồng thời là một trong những đảng viên trẻ của đơn vị. Chính bản lĩnh chính trị vững vàng giúp ông được lựa chọn tham gia những nhiệm vụ đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh trên biển.

Ông Lừng nhớ lại, những con tàu thường rời Bến K15 vào khoảng 23 giờ đêm, thời điểm biển đã vắng bóng tàu, thuyền ngư dân, mọi hoạt động trên mặt nước gần như lặng im để giữ bí mật tuyệt đối. “Ngay ở Đồ Sơn, nhà tôi cách bến chỉ chừng 6 cây số, nhưng không được về, tất cả đều phải giữ kín,” ông chia sẻ.

tau-khong-so-2.jpg
Dù đã 83 tuổi, ký ức của ông Lưu Đình Lừng vẫn vẹn nguyên với những chuyến tàu không số đã đi vào lịch sử.

Chính sự im lặng đến khắc nghiệt ấy khiến mỗi chuyến đi càng trở nên đặc biệt. Không lời từ biệt, không một cái ôm tiễn đưa, người lính bước lên tàu mang theo cả quê nhà với niềm tin mãnh liệt về ngày đất nước thống nhất rồi lặng lẽ hòa vào đêm biển.

Không hải đồ, không có thiết bị định vị hiện đại, ra khơi là đối mặt với hiểm nguy cận kề từ sóng gió thiên nhiên đến sự bao vây của quân địch. Ông Lừng kể: “Trên tàu, từ mũi đến đuôi đều bố trí thuốc nổ. Nếu không thể chiến đấu, sẽ phá hủy tàu.

Chúng tôi hiểu rất rõ, mỗi chuyến đi là một lần không hẹn ngày trở lại. Nhưng khi ấy, với nhiệt huyết của tuổi trẻ, không ai sợ”. Trước giờ xuất phát, cán bộ, chiến sĩ thường được động viên bằng một nghi thức mà họ gọi vui là “truy điệu sống”. “Chúng tôi cứ nói với nhau là liên hoan vui vẻ thôi. Nhưng ai cũng hiểu, đó có thể là lần cuối cùng” ông Lừng nhớ lại.

... đến những chuyến tàu nối dài chiến thắng

tau-khong-so-1.jpg
Ông Lưu Đình Lừng tự hào khi là một trong những chiến sĩ của tàu không số 42 anh hùng.

Trong ký ức của ông Lừng, chuyến đi đặc biệt nhất khi ông còn là chiến sĩ trên tàu 42, con tàu duy nhất được cải tạo, thay đổi kết cấu để vận chuyển thủy lôi vào Nam, do thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng chỉ huy. Đêm 15/10/1965, con tàu được cải trang thành tàu cá nước ngoài lặng lẽ rời Bến K15.

Trên tàu có 16 thủy thủ, mang theo 60 tấn vũ khí cùng 4 quả thủy lôi, mỗi quả nặng hơn một tấn. Nhiệm vụ không chỉ là vận chuyển vũ khí vào bến Vàm Lũng (Cà Mau), mà còn khảo sát tuyến đường vận tải mới sau khi tuyến cũ bị lộ. Hành trình dự kiến kéo dài khoảng nửa tháng, nhưng thực tế là chuỗi ngày căng thẳng giữa trùng khơi.

Để qua mắt địch, con tàu liên tục thay đổi biển số theo từng vùng hải phận, thả lưới giả làm tàu cá. Nhưng khi gần tới bến, những vệt sáng bất ngờ xuất hiện, rồi dày đặc hơn, tạo thành vòng vây siết chặt quanh tàu. “Chúng tôi hiểu đã bị bao vây,” ông Lừng kể, giọng trầm xuống. Trong tình thế ấy, thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng quyết định táo bạo, bật đèn giống tàu địch, cho tàu di chuyển chậm rãi, nhập vào chính vòng vây của đối phương.

Con tàu lặng lẽ len lỏi giữa đội hình địch, chờ thời cơ, rồi bất ngờ tăng tốc lao thẳng vào bến. “Có lúc căng thẳng đến nghẹt thở, tưởng như phải nổ súng. Nhưng bằng bản lĩnh và sự phán đoán chính xác của thuyền trưởng, chúng tôi phá được vòng vây, vào bến an toàn,” ông Lừng nói, ánh mắt ánh lên niềm tự hào.

Theo ông Lừng, số thủy lôi được vận chuyển trong chuyến đi ấy đã được bộ đội ta sử dụng đánh chìm tàu vận tải quân sự trọng tải lớn của Mỹ, làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.

Sau chuyến đi khảo sát thành công ấy, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đi qua hải phận quốc tế vào Nam được hình thành, tiếp tục nối dài những chuyến tàu không số chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Từ năm 1963 đến 1970, tàu 42 chở được 11 chuyến với hơn 500 tấn vũ khí tới bến an toàn. Ngày 25/8/1970, tàu 42 được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến năm 1973, ông Lừng được giao làm thuyền trưởng tàu 610. Những chuyến đi vẫn tiếp nối, gian nan nhưng cũng đầy khí thế. Ông nhớ nhất chuyến tàu xuất phát từ Bến K15 ngày 26/3/1975, chở 200 tấn dầu nhớt.

Khi tàu đang trên biển Nhật Lệ, ông nhận tin quân ta giải phóng Huế (26/3/1975). Lệnh mới lập tức được ban ra, tàu chạy thẳng vào Huế, Đà Nẵng, tập kết hàng rồi đón bộ đội tiếp tục hành quân giải phóng các tỉnh miền Trung.

Đêm 29/3/1975, tàu đưa lực lượng bộ đội ta vào Quy Nhơn, sau đó tiếp tục chở quân tiến vào Nha Trang, cập cảng sáng 30/3/1975. “Đó là những chuyến đi đặc biệt,” ông Lừng xúc động. “Mỗi ngày đều nghe tin chiến thắng. Niềm vui cứ lớn dần, tiếp thêm niềm tin cho chúng tôi tiến tới ngày 30/4 lịch sử”.

tau-khong-so.jpg
Hình ảnh con tàu 42 huyền thoại, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân gắn với ký ức của ông Lưu Đình Lừng.

Những chuyến tàu khép lại theo dòng lịch sử, nhưng ký ức về một thời không số vẫn neo đậu nơi Bến K15, chưa từng phai nhạt. Mỗi chuyến đi là một kỳ tích. Mỗi con tàu là một câu chuyện. Mỗi người lính là một biểu tượng của lòng dũng cảm.

Hiện nay, di tích Bến K15 được tu bổ, tôn tạo trên diện tích 2,28 ha với tổng mức gần 235 tỷ đồng, dự kiến khánh thành trong dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam năm nay. Không chỉ bảo tồn những hàng cọc gỗ còn lại giữa sóng biển, Bến K15 hôm nay có thêm các công trình biểu tượng như Đền thờ các Anh hùng, liệt sĩ, tàu mô phỏng kết hợp tượng lễ truy điệu sống các chiến sĩ Đoàn tàu không số; phù điêu Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lực lượng Hải quân....

Đứng trước Bến K15 hôm nay, những người lính năm xưa không chỉ thấy dấu tích lịch sử mà còn thấy sự trân trọng, tri ân của thế hệ đi sau luôn hướng về những anh hùng, liệt sĩ thầm lặng hy sinh cho Tổ quốc. Ở nơi ấy, ký ức vẫn như sóng vỗ, kể mãi câu chuyện về những chuyến tàu không số, những chuyến đi góp phần làm nên dáng hình đất nước.

TUỆ MINH