Tác giả - Tác phẩm

'Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ' - công trình nghiên cứu, sưu tầm công phu

KIM PHỦ VĨNH 30/04/2026 11:23

'Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ' là tập nghiên cứu - sưu tầm thứ tư về vùng đất và con người xứ Đông thời cổ (thuộc Hải Phòng ngày nay) của nhà văn Tô Ngọc Thạch.

xu-dong.jpg
Sách 'Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ' của nhà văn Tô Ngọc Thạch.

Thời gian qua, bên cạnh những thành tựu trong sáng tác văn học, ở mảng nghiên cứu, lý luận - phê bình, dịch thuật, nhà văn Tô Ngọc Thạch đã liên tục cho ra đời những công trình nghiên cứu công phu, khá đồ sộ với những đóng góp mang giá trị đặc biệt của nó.

Vào năm 2021, tập Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cội nguồn và Khai sáng ra đời, đã gây được tiếng vang trong lòng bạn đọc trong và ngoài nước.

Tiếp nối là tuyển tập Hải Phòng - Những trầm tích thời gian xuất bản quý IV/2023 - một công trình nghiên cứu khoa học thứ ba về Hải Phòng, quê hương ông với gần một nghìn trang viết in khổ lớn. Tuyển tập bao trùm rộng khắp ở các vấn đề, được khơi dậy từ một vùng đất qua các tầng sự kiện, được xới lật trước dòng chảy dài của các niên đại.

Đồng hành với cách tiếp cận thận trọng, khoa học trước nhiều vấn đề được khai quật, cùng hệ thống chứng cứ và phương pháp giải mã giàu sức thuyết phục, các ấn phẩm của Tô Ngọc Thạch thể hiện kiến văn sâu rộng của người cầm bút đối với đối tượng nghiên cứu. Nhờ đó, tác phẩm đã tạo được sức cuốn hút với đông đảo bạn đọc trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, gây tiếng vang ở nhiều phương diện giá trị.

img_0805.jpeg
Nhà văn Tô Ngọc Thạch (bên trái) và nhà báo lão thành Kim Toàn tại hội thảo về sách năm 2023. Ảnh: VŨ DŨNG

Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ là tập nghiên cứu - sưu tầm thứ tư về vùng đất và con người xứ Đông thời cổ, tức trấn Hải Dương xưa; đến tháng 7/2025, địa bàn này thuộc thành phố Hải Phòng sau khi tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng sáp nhập.

Trong Xứ Đông – Miền ca dao tục ngữ, bằng phương pháp nghiên cứu chặt chẽ và lối thể hiện giàu sức gợi, Tô Ngọc Thạch đã tạo nên sức cuốn hút riêng, giúp người đọc tiếp cận cội nguồn của nhiều miền quê, xứ sở, cũng như những phong tục cổ xưa của vùng đất xứ Đông.

Điểm đáng chú ý là các trang khảo cứu về số lượng tiến sĩ Nho học, những làng quê có nhiều người đỗ đại khoa theo từng địa danh; hệ thống lỵ sở cổ của các phủ, huyện; nguồn gốc tên gọi các đơn vị hành chính; cùng các di tích văn hóa được xếp hạng trong nửa đầu thời Nguyễn (1802 - 1886) và những bản đồ cổ được giới thiệu trong sách.

Tác giả còn dày công sưu tầm, khai mở kho tàng văn học dân gian từng bị khuất lấp, lãng quên dưới lớp bụi thời gian.

Là nhà văn, nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết cho văn chương và quê hương, Tô Ngọc Thạch khẳng định vùng đất xứ Đông giữ vị trí đặc biệt quan trọng, mang tính chiến lược trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm. Nhận định ấy được phản ánh sinh động qua ca dao, tục ngữ, như: “Xứ Đông đồng xanh/ Đất lành chim đậu/ Phên giậu Thăng Long”.

Đây là vùng đất rộng lớn, địa hình thấp xen kẽ đồi núi, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của đồng bằng phía đông vùng duyên hải Bắc Bộ. Qua quá trình khảo cứu, khai thác các trầm tích văn hóa, xứ Đông là địa phương đứng đầu cả nước về số lượng tiến sĩ Nho học với 556 vị (chưa tính huyện Đường Hào và Đông Triều).

Trong đó, tiêu biểu như huyện Nam Sách đầu thế kỷ XX có tới 125 vị; huyện Đường An (sau là Bình Giang) vào thời Đồng Khánh (1886 – 1888) có 104 vị. Đặc biệt, làng Mộ Trạch (Bình Giang) được xem là “độc nhất vô nhị” của Việt Nam với 36 tiến sĩ Nho học, riêng họ Vũ chiếm tới 29 vị.

Bên cạnh đó, Tô Ngọc Thạch đặc biệt quan tâm tới mảng văn học dân gian. Đây là những sáng tạo nghệ thuật, bởi ngôn từ truyền miệng của đồng bào ta khi chữ viết còn chưa phát triển. Nó phản ảnh tới mọi sinh hoạt đời thường, được đúc kết qua nhiều thế hệ, được lưu giữ và phát huy nhờ hình thức truyền khẩu gồm các thể loại như: Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ, chèo, ca dao dân ca và tục ngữ...

1jnf6p536_3i73f2.jpeg
Nhà văn Tô Ngọc Thạch - một người say mê nghiên cứu vốn cổ của quê hương (ảnh chụp tại Văn miếu Mao Điền).

Đây là một đề tài có biên độ rộng, giàu thách thức, bao trùm toàn bộ vùng đất xứ Đông – lĩnh vực mà không nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm dám dấn thân. Trong dòng chảy lớn của văn học dân gian, mỗi phát hiện đều gắn với những nét đẹp văn hóa riêng của từng miền quê, từng địa danh. Đặc biệt, không ít trầm tích văn hóa đã bị lớp bụi thời gian phủ lấp qua những biến thiên dài của thời phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc, khiến hậu thế ít có điều kiện tiếp cận.

Trong bối cảnh đó, Xứ Đông – Miền ca dao tục ngữ của Tô Ngọc Thạch đã góp phần “đánh thức” kho tàng văn học dân gian ở từng địa phương thuộc trấn Hải Dương xưa. Với dung lượng gần 700 trang khổ lớn, công trình tập trung nghiên cứu, sưu tầm các giá trị “nguồn cội” như ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ, câu đối của các huyện, phủ xứ Đông thời cổ, được tác giả dày công tuyển chọn thông qua quá trình điều tra điền dã, khảo cứu và sưu tập công phu.

Đây là một sản phẩm văn hóa đáng trân quý, kết tinh từ quá trình lao động bền bỉ, say mê điền dã của người cầm bút với tình yêu sâu nặng dành cho quê hương – cội nguồn – đất mẹ. Đồng thời, đó cũng là thành quả tích lũy qua nhiều năm sống, tìm tòi, chắt lọc và phân tích của Tô Ngọc Thạch – một “nhà văn, nhà xứ Đông học” luôn đau đáu hướng về vùng đất quê mình.

Trong Xứ Đông – Miền ca dao tục ngữ, tác giả đã dày công sưu tầm, tuyển chọn, phân tích và đánh giá những câu ca dao, dân ca giàu chất trữ tình, có vần điệu, phản ánh thế giới nội tâm con người qua nhiều cung bậc. Qua đó, bức tranh đời sống nhân dân hiện lên đa dạng, sinh động, thể hiện tâm trạng, tư tưởng và tình cảm con người trong mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội.

Không chỉ dừng lại ở giá trị biểu đạt cảm xúc, ca dao, dân ca còn mở ra một không gian văn hóa phong phú, phản ánh vẻ đẹp tự nhiên, sản vật địa phương, chiều sâu lịch sử, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, cũng như phong tục, tập quán và con người của từng miền đất xứ Đông.

Ở phần tục ngữ, đối tượng phản ánh được thể hiện qua những cụm từ ngắn gọn, hàm súc, giàu vần điệu, được đúc kết từ thực tiễn và kiểm nghiệm qua thời gian, gắn bó chặt chẽ với đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Nội dung tục ngữ bao quát nhiều lĩnh vực: từ kinh nghiệm lao động sản xuất, dự báo thời tiết đến việc ghi nhận các hiện tượng lịch sử – xã hội.

Nhiều câu tục ngữ được hình thành trực tiếp từ đời sống thực tiễn, với ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng linh hoạt các biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… Nhờ đó, tục ngữ không chỉ là kho tri thức dân gian mà còn là một bức tranh sinh động, phản chiếu những sự kiện, biến cố của lịch sử dân tộc, gắn với những nhân vật được cộng đồng tôn kính.

Phần lớn tục ngữ mang nhịp điệu rõ ràng, có vần, được tổ chức gần với ngôn ngữ thi ca, tạo nên sức truyền đạt bền bỉ và khả năng lưu truyền lâu dài trong đời sống dân gian.

1jnf6prah_3i73f2.jpeg
Nhà văn Tô Ngọc Thạch (bên trái) cùng các bạn văn Hà Cừ (giữa) và Kim Chuông.

Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ, Tô Ngọc Thạch còn cung cấp thêm cho bạn đọc 12 bài hát đúm tiêu biểu của tổng Phục Lễ, huyện Thủy Đường, sau này là Thủy Nguyên, mà năm 2018 được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt, trong tập này, Tô Ngọc Thạch còn quan tâm giới thiệu một món ăn tinh thần độc lạ là “tứ vật”, “tứ mạc”, “tứ bất” tức “bốn điều nên tránh” của tất cả các huyện cổ thuộc xứ Đông. Đây là những câu “ngạn ngữ” mang tính ước lệ, phản ánh góc nhìn của dân gian xưa trong một bối cảnh lịch sử xã hội nhất định.

Trong Xứ Đông – Miền ca dao tục ngữ, thể loại “văn biền ngẫu” – tức câu đối – cũng được tác giả dành những trang viết riêng khá lý thú. Khác với ca dao, tục ngữ thường đi từ truyền miệng đến thành văn, câu đối ở nước ta chủ yếu hình thành theo chiều ngược lại: từ thành văn rồi lan truyền trong dân gian.

Câu đối gồm hai vế song hành, đối xứng chặt chẽ, nhằm biểu đạt quan điểm, ý chí, tình cảm của người viết trước một sự việc hay hiện tượng trong đời sống. Nhiều câu đối gắn với điển tích, di tích lịch sử – văn hóa, trở thành dấu ấn tinh thần của từng địa danh.

Là một thể loại xuất hiện từ sớm, câu đối đòi hỏi quy chuẩn nghiêm ngặt: hai vế phải cân xứng cả về ý và hình thức; chữ đối nhau về thanh (bằng – trắc), về loại từ, số lượng và nhịp điệu. Chính vì vậy, đây là loại hình văn học giàu tính nghệ thuật và trí tuệ.

Từ hệ thống câu đối cổ được sưu tầm, người đọc không chỉ cảm nhận vẻ đẹp ngôn từ mà còn có thêm hiểu biết về địa danh, lịch sử văn hóa và những nhân vật gắn với vùng đất xứ Đông.

Từ những dữ liệu trong Xứ Đông – Miền ca dao tục ngữ, có thể thấy Tô Ngọc Thạch đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề còn khuất lấp liên quan đến địa danh và các cứ liệu khoa học – những điểm mà một số công trình đương thời còn ghi chép chưa chính xác.

Chẳng hạn, qua tục ngữ thời Lê sơ của cư dân vùng đông nam huyện Bàng Hà (nay là Tiên Lãng), với lối nói ẩn dụ mượn hình ảnh “bể” để dự báo thời tiết phục vụ sản xuất nông nghiệp: “Động bể Úc xúc thóc ra phơi/ Động bể Bàng đổ thóc vào rang”.

Đối chiếu với Đồng Khánh địa dư chí (phần huyện Nghi Dương): “Sóng kêu bể Cồn đổ thóc vào rang/ Sóng kêu bể Bàng đổ thóc ra phơi”, có thêm cơ sở để khẳng định “bể Đại Bàng” chính là vùng biển Thái Bình ngày nay, thay vì cách hiểu trong một số sách xuất bản gần đây cho rằng đó là vùng biển ở Bàng La (Đồ Sơn) đã bị bồi cạn.

Tương tự, tại Tiên Lãng còn lưu truyền câu: “Sấm nhẩy bể Kim/ Mang chum hứng nước/ Sấm nhẩy bể Úc/ Xúc thóc ra phơi”. Từ đó có thể suy ra, vào thời Mạc, đoạn hạ lưu Bàng Hà đã chuyển thành sông Kim; đến khoảng năm 1890 trở thành hạ lưu sông Thái Bình, và “bể Kim” thực chất là biển Thái Bình ngày nay. Cách lý giải này khác với một số tài liệu hiện hành cho rằng “bể Kim” nằm gần chợ Quý Kim (Kiến Thụy).

Những đối chiếu, luận giải như vậy cho thấy giá trị của việc kết hợp tư liệu dân gian với thư tịch cổ trong việc nhận diện lịch sử – địa lý một vùng đất.

Hay khi tìm hiểu về huyện Cẩm Giàng, nhà nghiên cứu Tô Ngọc Thạch thấy làng Tràng Kênh, tổng Kim Quan, huyện Cẩm Giàng và làng Tràng Kênh, tổng Dưỡng Động, huyện Thủy Đường cùng thờ một Thành hoàng làng duy nhất.

Và Thần sắc thời Nguyễn ở hai làng trên đều ghi vị thần đó là Bản Cảnh Thành Hoàng Linh Phù Chi thần (夲境城隍靈扶之神). Ngay sau đó, tác giả còn tìm được câu thành ngữ: “Tràng Kênh - Thủy Đường. Gốc hương - Cẩm Giang”. Qua câu thành ngữ này, ta có thể khẳng định thôn dân làng Tràng Kênh, huyện Thủy Nguyên có gốc gác từ làng Tràng Kênh, huyện Cẩm Giang (từ năm 1730 gọi là Cẩm Giàng vì kiêng húy) mà ra. Trong đó, Thành hoàng làng được thờ ở đình làng Tràng Kênh (Cẩm Giàng) là Thổ thần, còn cũng vị thần ấy ở đền làng Tràng Kênh (Thủy Nguyên) lại là Tướng quân Trần Quốc Bảo?...

Khó khăn lớn nhất khi nghiên cứu Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ là nguồn tư liệu bị mai một qua biến động lịch sử như chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn… khiến nhiều sách vở thất lạc, các câu ca dao, tục ngữ truyền miệng dần bị lãng quên hoặc sai lệch. Bên cạnh đó, phần lớn địa danh được ghi bằng tên Nôm, trong khi chưa có hệ thống từ điển chuẩn đối chiếu Hán - Nôm, gây trở ngại lớn cho việc xác định, đối chiếu địa danh xưa. Không ít trường hợp, tác giả phải mất nhiều năm mới tìm ra lời giải cho một địa danh cổ.

Điểm đáng trân trọng của công trình là việc nhà văn, nhà nghiên cứu Tô Ngọc Thạch đã hệ thống lại lịch sử hành chính toàn vùng xứ Đông, đồng thời đối chiếu với các vùng liên quan như Yên Quảng, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang… Tác phẩm còn cung cấp nguồn tư liệu quý về địa danh Nôm và Hán Việt của các giáp, làng, tổng, huyện qua các thời kỳ, được thể hiện chi tiết trong từng câu ca, bài tục ngữ.

Sau nửa thế kỷ lao động sáng tạo với nhiều ấn phẩm văn học, Xứ Đông - Miền ca dao tục ngữ là công trình văn hóa tiêu biểu, lần đầu tiên khái quát toàn diện di sản ca dao, tục ngữ của vùng đất này. Qua đó, tiếp tục khẳng định đóng góp bền bỉ, có giá trị của Tô Ngọc Thạch trong lĩnh vực nghiên cứu, sưu tầm và sáng tạo văn hóa.

KIM PHỦ VĨNH