Truyện ngắn

Chuyện tình bên dòng sông Cấm

Truyện ngắn của VŨ KIM LIÊN 09/05/2026 10:00

Lấy bối cảnh Hải Phòng từ những năm tháng chiến tranh chống Mỹ đến thời kỳ đổi mới và hội nhập, 'Chuyện tình bên dòng sông Cấm' của Vũ Kim Liên là câu chuyện cảm động về tình yêu son sắt của ông Quang và bà Hòa.

chuyen-tinh-ben-dong-song-cam.png
Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Chiều cuối Hạ, gió từ sông Cấm thổi vào mang theo vị mặn nồng của biển cả. Thành phố Cảng hôm nay rực rỡ ánh sáng, những toà nhà cao tầng soi bóng xuống mặt nước, những cây cầu nối đôi bờ lung linh như dải lụa. Giữa không gian ấy, có hai mái đầu bạc đang chậm rãi bước đi trên con đường thảm nhựa dẫn ra bến cảng - nơi từng chứng kiến tuổi trẻ, tình yêu và cả cuộc đời họ.

Ông Trần Minh Quang khoác cánh tay gầy guộc nhưng còn khá vững chãi lên vai vợ, bà Nguyễn Thúy Hòa. Cả hai đều đã gần chạm cột mốc tám mươi, tóc mồi da bạc, tấm lưng đã chùng xuống. Song, thẳm sâu trong đôi mắt họ vẫn còn nguyên nét kiên nghị của một thời hoa lửa. Họ đã đi qua chiến tranh, đi qua đói nghèo, đi qua những biến động thăng trầm của thành phố Cảng biển sôi động này. Và đến hôm nay, khi Hải Phòng đã trở thành một cực tăng trưởng sôi động của vùng Duyên hải Bắc bộ, ông bà vẫn miệt mài góp sức lực, trí tuệ trong các dự án văn hoá, giáo dục, truyền cảm hứng cho lớp trẻ.

Dõi ánh mắt xa xăm nhìn về những con tàu đang neo đậu, ông Quang nói:

- Bà còn nhớ lần đầu tôi với bà gặp nhau ở đây không?

Bà Hòa khẽ cười, nụ cười hiền hậu làm những nếp nhăn trên gương mặt dãn ra, như trẻ lại.

- Sao mà quên được, cái ngày Cảng bị bom đánh, khói lửa mù mịt, vậy mà…

Tiếng còi tàu văng vẳng vọng lại, cắt ngang lời. Bà nắm tay ông chặt hơn. Ký ức năm xưa ùa về như sóng tràn.

… Hải Phòng những năm 1965 - 1966, khi ấy là cửa ngõ huyết mạch của miền Bắc. Từng con tàu chở hàng hoá, vũ khí, lương thực từ các nước anh em cập bến, rồi từ đây lại vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Cảng Hải Phòng trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Nguyễn Thúy Hòa khi đó mới mười tám, vừa học xong lớp y tá cấp tốc. Cô xung phong về đội quân y tuyến đầu của thành phố. Nhiệm vụ của Hòa là túc trực tại các hầm trú ẩn ven Cảng, sẵn sàng cấp cứu thương binh và những người bị thương khác. Còn Trần Minh Quang - chàng trai quê Thủy Nguyên, vốn là sinh viên trường Hàng hải. Khi giặc Mỹ leo thang, anh "gác bút nghiên", tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ đặc công nước. Những ngày huấn luyện gian khổ, anh cùng đồng đội học cách lặn dưới làn nước lạnh cắt da, tiếp cận mục tiêu, đặt mìn, đánh chìm… Một chiều tháng 5 năm 1966, còi báo động rú lên inh ỏi. Máy bay Mỹ ập đến trút bom xuống khu vực cầu Cảng. Khói bụi mịt mù, những tiếng nổ rung chuyển đất trời. Hòa cùng đồng đội lao ra từ hầm trú ẩn, khẩn trương đưa những người bị thương vào nơi an toàn. Giữa khói bụi mịt mù, cô nhìn thấy một chàng lính trẻ bị sức ép của bom hất văng lên cao rồi rơi xuống đất. Anh lồm cồm đứng dậy, lấy hết sức dìu một công nhân già bị thương nặng vào khu vực hầm trú ẩn. Hòa lao tới.

- Đồng chí, để tôi băng bó vết thương cho!

-Tôi không sao, lo cho bác ấy trước!

Quang dứt khoát. Đôi mắt họ chạm nhau. Giữa cảnh hoang tàn, khói lửa, ánh nhìn ấy sáng rực, kiên cường đến lạ. Tim Hòa khẽ run lên, vừa cảm phục vừa xao xuyến. Tối hôm đó, đưa thương binh về trạm cấp cứu xong, Hòa quay lại gặp Quang. Anh bị thương nhẹ nhưng nhất quyết không chịu nghỉ, cứ đòi ra bến. Cô y tá trẻ nửa giận nửa thương.

- Anh liều lĩnh quá, chẳng lẽ mạng sống của mình không quan trọng sao?

- Quan trọng chứ. Nhưng nếu không giữ được Cảng, thì có còn gì để sống nữa?

Quang cười, nụ cười rắn rỏi. Hòa lặng im. Trong lòng cô, một ngọn lửa nhỏ bắt đầu nhen lên.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Ngày nào Hải Phòng cũng phải hứng chịu bom đạn. Nhưng cũng chính trong những ngày ấy, tình cảm giữa Quang và Hòa âm thầm lớn dần. Mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ, Quang ghé trạm quân y, khi thì để kiểm tra vết thương, khi thì xin chút bông băng… chỉ để được nhìn thấy Hòa. Cô vẫn trách anh liều lĩnh, nhưng ánh mắt thì không giấu nổi sự lo lắng. Có đêm, Cảng bốc cháy sáng rực, những chiếc tàu hàng kẹt lại giữa sông. Đơn vị Quang được lệnh bảo vệ hàng hóa, ngăn không cho địch đánh phá. Anh cùng đồng đội lặn xuống dòng sông, trong làn nước đen khói dầu, mồ hôi và máu hoà vào nhau. Khi lên bờ, anh thấy Hòa ngồi bên thương binh, tay thoăn thoắt băng bó vết thương dưới ánh sáng lờ mờ hắt lên từ những cột lửa trên mặt nước. Tim anh ngập tràn cảm xúc. Họ không có những buổi hẹn hò lãng mạn, không có những bông hoa hay lời thì thầm ngọt ngào...

Một lần, sau trận bom ác liệt, Quang tìm gặp Hòa, đưa cho cô chiếc vòng tay được gọt giũa bởi vỏ quả đạn pháo.

-Anh tự tay làm đấy. Nếu em không chê…

Hòa lặng đi, mắt rưng rưng. Cô đưa cổ tay để Quang đeo chiếc vòng vào đó. Chất kim loại chạm vào tay lạnh buốt nhưng tim cô thì ấm áp lạ thường.

Sau đó, Quang nhận lệnh vào Nam công tác dài ngày. Đơn vị đặc công nước phải vượt hàng nghìn cây số, vào tận chiến trường sông nước Cà Mau. Trước ngày đi, anh chỉ kịp gặp Hòa bên bến Cảng.

- Em chờ anh nhé. Khi nào đất nước thống nhất, anh sẽ trở về - vừa nói, anh vừa siết chặt tay Hòa.

- Anh nhớ giữ gìn…

Hòa nghẹn ngào, nước mắt lăn dài. Không có nụ hôn vội vàng, chỉ có cái nắm tay run rẩy nhưng mang theo cả lời thề son sắt. Hòa tiếp tục ở lại Hải Phòng, giữa bom đạn vẫn miệt mài với công việc cứu thương. Mỗi lần nhìn chiếc vòng tay bằng vỏ đạn, cô lại thấy như có Quang ở bên, dặn mình phải kiên cường.

… Tháng Tư năm 1975, chiến tranh kết thúc. Cả nước vỡ òa niềm vui thống nhất. Trần Minh Quang trở về Hải Phòng sau gần năm năm rong ruổi chiến trường miền Nam. Hòa đứng chờ ở Ga Hải Phòng, nơi dòng người đông nghịt hân hoan đón những đoàn quân trở về. Khi Quang bước xuống từ toa tàu, Hòa òa khóc. Bao năm chờ đợi, bao tháng ngày lo âu, giờ phút ấy như dồn cả vào giọt nước mắt hạnh phúc. Họ cưới nhau trong một đám cưới giản dị, chỉ có đồng đội, bà con làng xóm và một bữa cơm thân mật. Chiếc vòng tay bằng vỏ đạn vẫn trên cổ tay Hòa, như minh chứng cho lời hẹn ước. Nhưng sau niềm vui đoàn tụ là những thử thách mới. Thành phố Cảng khi ấy còn hoang tàn sau bom đạn. Nhiều cây cầu bị đánh sập, Cảng bị tàn phá, nhà máy xi măng, nhà máy điện đâu đâu cũng ngổn ngang gạch ngói vụn vỡ. Đất nước bước vào thời kỳ bao cấp khó khăn. Quang được phân công về Công ty đóng tàu Bạch Đằng, nơi vốn là niềm tự hào công nghiệp của Hải Phòng. Anh cùng anh em bắt tay khôi phục từng chiếc máy, từng phân xưởng. Hòa về bệnh viện Việt Tiệp, tiếp tục công việc của một y tá. Cuộc sống chật vật, lương ba cọc ba đồng, tem phiếu, lương thực, thực phẩm đều khan hiếm. Có những bữa cơm chỉ là khoai độn, rau muống luộc chấm tương. Trong gian khó, họ vẫn nắm chặt tay nhau.

Rồi con trai đầu lòng ra đời. Họ đặt tên con là Trần Hải Nam - để nhớ về chiến trường phương Nam và cũng để gắn với biển cả, nơi khởi đầu tình yêu của họ. Ba năm sau, cô con gái thứ hai, Trần Hải Yến, cất tiếng khóc chào đời. Trong ngôi nhà tập thể chật chội, những tiếng cười trẻ thơ xua đi bao vất vả. Nhiều đêm mất điện, cả gia đình ngồi quanh ngọn đèn dầu, Quang kể cho các con nghe về những trận đánh dưới sông. Dẫu cuộc sống thiếu thốn, nhưng tình yêu của họ vẫn luôn bền chặt. Họ cùng nhau lao động, đồng cam cộng khổ nuôi dạy con cái. Bản lĩnh của những con người đã đi qua chiến tranh, coi thử thách đời thường chỉ như một chặng mới của trận tuyến xây dựng Tổ quốc.

Năm 1986, khi thời kỳ Đổi mới được khởi xướng, Hải Phòng như được tiếp thêm luồng sinh khí. Thành phố bắt đầu mở cửa, kêu gọi đầu tư, khai thác lợi thế cảng biển. Những khu công nghiệp đầu tiên mọc lên ở Đình Vũ, Tràng Duệ. Ông Quang với kinh nghiệm và kiến thức hàng hải, được điều sang tham gia nghiên cứu phát triển tàu vận tải mới. Ông cùng đồng nghiệp dày công thiết kế, chế tạo, từng bước hiện đại hoá ngành đóng tàu. Có lần, ông cùng đoàn chuyên gia sang Ba Lan học hỏi công nghệ, rồi đem về áp dụng vào Hải Phòng. Bà Hòa tích cực đào tạo lớp y tá trẻ, truyền lại kinh nghiệm cấp cứu thời chiến cho các thế hệ sau. Bà còn hăng hái tham gia công tác xã hội ở phường, vận động người dân giữ gìn vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Những năm 90, thành phố khởi công xây dựng cầu Bính mới, khôi phục nhà máy xi măng, mở rộng Cảng. Ông bà thường dắt con ra xem công trình, kể cho các con nghe về những năm tháng khói lửa. Hai đứa trẻ lớn lên, tiếp bước cha mẹ: Nam theo ngành công nghệ thông tin, Yến học y khoa. Gia đình nhỏ dần trở thành điểm tựa, một “tổ ấm” giữa bao biến động. Khi cầu Bính khánh thành, ông Quang, bà Hòa nắm tay nhau đứng giữa dòng người hân hoan. Mắt họ rưng rưng. Hình ảnh cây cầu vươn qua sông Cấm như biểu tượng cho khát vọng nối liền quá khứ, hiện tại với tương lai. Thành phố ngày càng đổi thay. Các tuyến cao tốc nối Hải Phòng với Hà Nội, Quảng Ninh mở ra nhiều cơ hội phát triển. Cảng nước sâu Lạch Huyện đi vào hoạt động, đón những con tàu hàng chục vạn tấn. Những khu đô thị mới mọc lên, ánh đèn điện lung linh thay cho ngọn đèn dầu leo lét khi xưa. Ông Quang nghỉ hưu, nhưng vẫn tham gia làm cố vấn cho các dự án hàng hải, tư vấn về bảo tồn di tích lịch sử gắn với cảng biển. Bà Hòa tham gia Hội Cựu Thanh niên xung phong, Hội Chữ thập đỏ, không ngừng cống hiến cho cộng đồng.

Một ngày tháng Năm vui náo nức, Hải Phòng tổ chức lễ kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố. Trong hàng trăm nhân chứng lịch sử được mời, có đôi vợ chồng Trần Minh Quang, Nguyễn Thúy Hòa. Họ ngồi ở hàng ghế đầu, giữa bao ánh mắt ngưỡng mộ. Trên màn hình lớn chiếu lại những hình ảnh đen trắng: Cảng Hải Phòng rực lửa bom đạn, những đoàn tàu không số rời bến, những y tá cứu thương trong hầm tối, những chiến sĩ đặc công thoắt ẩn thoắt hiện. Và rồi, hình ảnh một đôi trai gái năm xưa - Quang và Hòa bất ngờ hiện lên. Cả hội trường vỗ tay. Người dẫn chương trình trịnh trọng xướng tên:

- Xin trân trọng giới thiệu hai nhân chứng của thời hoa lửa và cũng là tấm gương sáng trong xây dựng, đổi mới: đồng chí Trần Minh Quang và đồng chí Nguyễn Thúy Hòa!

Ông Quang nắm tay vợ, bước lên sân khấu. Ông không nói dài, chỉ trầm giọng:

- Chúng tôi không coi mình là anh hùng. Anh hùng chính là những đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. Chúng tôi chỉ muốn kể lại cho thế hệ trẻ rằng, tình yêu Tổ quốc, tình yêu đôi lứa, tình yêu nhân dân, tất cả hòa quyện vào nhau, giúp chúng ta vượt qua mọi gian khó.

Bà Hòa xúc động, mắt rưng rưng tiếp lời chồng:

- Nếu được chọn lại, chúng tôi vẫn sẽ chọn con đường ấy. Bởi vì từ trong khói lửa, chúng tôi đã tìm thấy nhau. Và cũng từ đó, chúng tôi cùng nhau đi đến hôm nay…

Tiếng vỗ tay lại vang lên như sóng dội.

… Chiều nay, cũng giống như chiều của hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Trên bến Cảng hiện đại, hai ông bà lại lặng lẽ bên nhau, cùng nhớ lại thời tuổi trẻ hào sảng của mỗi người. Những con tàu chở container xếp hàng dài, những cần cẩu vươn cao như cánh tay chĩa ra biển lớn. Thành phố thay đổi rất nhiều, nhưng tình yêu của họ vẫn vẹn nguyên như dòng sông Cấm luôn chảy mãi không ngừng. Ông Quang nắm tay vợ, khẽ nói:

- Nếu không có chiến tranh, chắc gì chúng ta đã gặp nhau…

Bà Hòa tựa đầu vào vai chồng.

- Đúng vậy, nếu không có tình yêu, chắc gì chúng ta đã đi qua được chiến tranh...
Lại một hồi còi dài cất lên, một con tàu lớn chậm rãi rời bến, hướng ra biển Đông. Ông Quang khẽ nói:

- Bà thấy không, Hải Phòng hôm nay khác xưa nhiều lắm rồi.

- Nhưng dòng sông này vẫn thế và tình yêu này vẫn vậy…

Họ đứng đó, tay trong tay, nhìn con tàu dần xa. Con tàu ấy như mang theo cả ký ức bi hùng, mang theo tình yêu son sắt và mang theo khát vọng hội nhập, vươn ra biển lớn của thành phố Cảng. Hai bên đường và dọc các tuyến phố, từng hàng cây phượng trổ lá non xanh sau mùa hoa rực rỡ như những ngọn lửa đỏ bất diệt, mãi thắp sáng nền trời Tổ quốc.

Truyện ngắn của VŨ KIM LIÊN