Văn bản - Chính sách mới

Một số điểm mới liên quan đến giải quyết khiếu nại

PHẠM VĂN 05/06/2026 20:30

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

khieu-nai.jpg
Cuộc làm việc giữa Viện Kiểm sát nhân dân thành phố với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng về kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp. Ảnh: HẢI VÂN.

Rút, tạm đình chỉ khiếu nại

Luật quy định, người khiếu nại có thể rút toàn bộ nội dung khiếu nại hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại. Đơn rút khiếu nại, biên bản ghi nhân ý kiến rút khiếu nại phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại và gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định; trường hợp người khiếu nại rút toàn bộ nội dung khiếu nại thì thực hiện theo quy định về đình chỉ giải quyết khiếu nại.

Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa.

Theo luật, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong 2 trường hợp sau:

Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại;

Cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại.

Luật cũng quy định có 4 trường hợp người có thẩm quyền khiếu nại đình chỉ giải quyết khiếu nại:

Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại;

Cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế; cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động mà quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế;

Vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết;

Vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án.

Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật và gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Khi có căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên có liên quan; thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không được tính vào thời gian giải quyết khiếu nại.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Bên cạnh đó, luật cũng quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp xã. Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp xã, của công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp.

Ngoài ra, luật còn quy định 2 trường hợp thuộc thẩm quyền của Chánh Thanh tra các cấp và thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại:

Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.

Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.

PHẠM VĂN