Bứt phá cấu trúc để chạm tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Giáo sư Trần Văn Thọ, Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Nhật Bản cho rằng khát vọng tăng trưởng 2 con số của Việt Nam bắt buộc phải đi song song với phát triển bao trùm và phát triển bền vững.

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng vươn mình mạnh mẽ của dân tộc. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tầm nhìn trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế không thể tiếp tục đi với nhịp độ bình lặng như hiện tại. Trong lịch trình bận rộn khi trở về Việt Nam lần này, Giáo sư Trần Văn Thọ (Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Nhật Bản) đã dành cho phóng viên cuộc phỏng vấn, thẳng thắn và đầy tâm huyết về con đường bứt phá cấu trúc để chạm tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
GS Trần Văn Thọ - người trí thức Việt Nam luôn đau đáu với vận mệnh phát triển của đất nước
GS Trần Văn Thọ là một trong những trí thức Việt Nam tiêu biểu ở nước ngoài, người đã dành hơn nửa thế kỷ sống, học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại Nhật Bản nhưng chưa bao giờ thôi hướng về Việt Nam.
Sinh năm 1949 tại Quảng Nam, trưởng thành từ vùng đất Hội An giàu chiều sâu văn hóa, ông sang Nhật Bản du học từ năm 1968, sau đó trở thành Tiến sĩ kinh tế tại Đại học Hitotsubashi và Giáo sư kinh tế tại Đại học Waseda - một trong những đại học danh tiếng hàng đầu Nhật Bản.
Trong nhiều thập niên nghiên cứu về kinh tế phát triển, kinh tế Đông Á và công nghiệp hóa, GS Trần Văn Thọ không chỉ quan sát Việt Nam từ góc nhìn của một học giả, mà còn từ tâm thế của một người con xa quê luôn day dứt với câu hỏi: Việt Nam phải đi con đường nào để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên thành quốc gia phát triển, giàu mạnh, văn minh và được thế giới kính trọng?
Điều làm nên dấu ấn riêng của GS Trần Văn Thọ không chỉ nằm ở học hàm, học vị hay những năm tháng giảng dạy tại Nhật Bản, mà ở sự bền bỉ đóng góp cho tiến trình phát triển của Việt Nam.
Ông từng tham gia nhiều hoạt động tư vấn, phản biện chính sách, đóng góp các luận điểm quan trọng về cải cách thể chế, nâng cao năng suất, công nghiệp hóa, phát triển doanh nghiệp tư nhân, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có chọn lọc, chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng năng lực nội sinh cho nền kinh tế.
Trong các phân tích của ông, tăng trưởng không bao giờ chỉ là câu chuyện của GDP; công nghiệp hóa không chỉ là xây thêm nhà máy; cải cách không chỉ là thay đổi thủ tục. Tất cả đều hướng đến một mục tiêu sâu xa hơn: làm sao để người dân Việt Nam có đời sống tốt hơn, doanh nghiệp Việt Nam mạnh hơn, bộ máy công quyền hiệu quả hơn, người tài được trọng dụng hơn và đất nước có đủ nội lực để bước vào một kỷ nguyên phát triển mới.
Ở tuổi đã đi qua nhiều thập niên quan sát sự trỗi dậy của Nhật Bản và các nền kinh tế Đông Á, GS Trần Văn Thọ vẫn giữ một niềm tin rất rõ vào tiềm năng Việt Nam.
Gặp GS Trần Văn Thọ trong một lịch trình trở về Việt Nam dày đặc, điều khiến chúng tôi ấn tượng trước hết không phải là hào quang của một học giả lớn, mà là sự giản dị, điềm đạm và nỗi đau đáu rất sâu trong cách ông nói về đất nước.
Ông không nói nhiều bằng những mỹ từ lớn lao. Ông cũng không tạo cảm giác của một người đứng ngoài để phán xét. Trái lại, mỗi câu trả lời của ông đều chậm rãi, cẩn trọng, có độ lùi của một nhà khoa học nhưng cũng có hơi ấm của một người luôn xem tương lai Việt Nam là một phần trách nhiệm tinh thần của mình.
Khi nhắc đến “đêm trước của một kỷ nguyên mới”, giọng ông không lên cao, nhưng trong đó có một sự khẩn thiết: thời gian phát triển của Việt Nam không còn quá rộng rãi; cơ hội dân số vàng không kéo dài mãi; và nếu không cải cách đủ mạnh, đất nước có thể bỏ lỡ một thời điểm rất quan trọng của lịch sử.
Trong cuộc đối thoại này, chúng tôi cảm nhận rõ ở GS Trần Văn Thọ một sự kết hợp hiếm có giữa lý trí sắc bén và tình cảm sâu nặng. Ông phân tích tăng trưởng 2 con số bằng những luận cứ về năng suất, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), chuyển dịch lao động, công nghiệp hóa, nội nhu và doanh nghiệp tư nhân; nhưng phía sau các khái niệm kinh tế ấy lại luôn là hình ảnh của con người Việt Nam.
Đó là người nông dân cần được chuyển sang những khu vực có năng suất cao hơn; là doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ để lớn lên; là người trẻ cần một nền giáo dục và môi trường phát triển tốt hơn; là người dân cần được hưởng thành quả của tăng trưởng trong một xã hội bao trùm, bền vững và nhân văn hơn.
Có lẽ vì vậy, những lập luận của ông dù rất kinh tế học nhưng không hề khô cứng. Chúng được nâng đỡ bởi một tình yêu nước âm thầm, tỉnh táo và đầy trách nhiệm.

Hóa giải thách thức “chưa giàu đã già” từ lời dặn trong đêm trước kỷ nguyên mới
- Thưa Giáo sư, vừa qua ông đã có cuộc hội kiến và lắng nghe thông điệp của Tổng Bí thư Tô Lâm về đường lối phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Là một học giả dành hơn nửa cuộc đời quan sát vận mệnh Việt Nam từ “xứ sở hoa anh đào”, ông ấn tượng nhất với điều gì ở thông điệp này?
- Tôi đã đọc kỹ các diễn văn, nghị quyết gần đây và đặc biệt ấn tượng với quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam mới của Tổng Bí thư Tô Lâm. Phong cách của Tổng Bí thư rất cởi mở, thực chất, cầu thị và hướng về tương lai.
Câu hỏi mà Tổng Bí thư đặt ra cho các nhà khoa học: “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai?” chính là một gợi mở mang tính chiến lược đòi hỏi chúng ta phải trả lời bằng hành động cụ thể.
Tôi dùng cụm từ “đêm trước của một kỷ nguyên mới” để mô tả thời điểm hiện tại của Việt Nam. Chúng ta chỉ còn khoảng một thập niên trước khi thời kỳ “dân số vàng” khép lại.
Tăng trưởng cao, đặc biệt là tăng trưởng 2 con số (từ 10% trở lên) liên tục trong vòng 10 năm tới, không còn là một lựa chọn mang tính thành tích, mà là điều kiện bắt buộc, là lối thoát duy nhất để Việt Nam đối phó với thách thức nghiệt ngã: “Chưa giàu đã già”.
- Lịch sử kinh tế thế giới cho thấy rất ít quốc gia duy trì được mức tăng trưởng 2 con số khi đã chạm ngưỡng thu nhập trung bình. Nhìn vào năng lực nội tại của Việt Nam hiện nay, ông căn cứ vào đâu để khẳng định kịch bản tăng trưởng 2 con số là khả thi?
- Căn cứ lớn nhất là dư địa bứt phá năng suất của chúng ta còn rất lớn, nhưng lâu nay đang bị nghẽn ở mặt thể chế và cấu trúc. Hãy nhìn vào bài học thần kỳ của Nhật Bản giai đoạn 1955 - 1973.
Tỷ lệ đầu tư trên GDP của họ lúc đó khoảng 35% - không quá cao so với Việt Nam hiện nay - nhưng họ vẫn tăng trưởng 2 con số liên tục nhờ đóng góp khổng lồ của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP).
TFP của Nhật Bản bùng nổ không chỉ do công nghệ cao siêu, mà đến từ cải cách thể chế, chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Việt Nam hiện nay có đầy đủ các yếu tố này tiềm ẩn trong lòng nền kinh tế.
Nếu thực hiện khẩn trương và triệt để các cải cách lớn, khả năng chúng ta đạt tăng trưởng 2 con số trong một thập niên tới để về đích sớm mục tiêu nước thu nhập cao là hoàn toàn thực tế.

Ba mũi giáp công để kích hoạt động lực tăng trưởng 2 con số
- Vậy những “đại phẫu” cấu trúc mà Việt Nam bắt buộc phải thực hiện để kích hoạt mức tăng trưởng ngoạn mục đó là gì, thưa Giáo sư?
- Chúng ta phải thực hiện ngay “ba mũi giáp công” mang tính bước ngoặt:
Thứ nhất, chuyển dịch lao động triệt để từ nông nghiệp sang công nghiệp: tỷ lệ lao động nông nghiệp của Việt Nam hiện nay vẫn còn lớn, nhưng năng suất rất thấp. Chúng ta phải tạo ra một làn sóng chuyển dịch mạnh mẽ hàng triệu lao động này sang khu vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại.
Một người nông dân chuyển sang làm công nhân trong một nhà máy công nghệ, năng suất lao động của họ tăng lên gấp 3 - 5 lần, dĩ nhiên với điều kiện họ được đào tạo để có kỹ năng làm việc mới. Đây chính là động lực tạo ra sự bùng nổ 2 con số một cách bền vững.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghiệp hóa cả chiều rộng lẫn chiều sâu: về chiều rộng, phải xóa bỏ rào cản, thủ tục hành chính để khơi thông dòng vốn xã hội, kích thích doanh nghiệp tư nhân đổ tiền vào đầu tư các lĩnh vực mới như chế biến thực phẩm, ô tô và đặc biệt là công nghiệp vi mạch bán dẫn.
Về chiều sâu, phải kiên quyết phát triển công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thay thế hàng nhập khẩu đối với linh kiện và các sản phẩm trung gian để giữ lại chuỗi giá trị trong nước.
Thứ ba, chuyển dịch động lực từ xuất khẩu sang nội nhu: xuất khẩu vẫn quan trọng để duy trì độ mở kinh tế, nhưng để giảm thiểu rủi ro địa - chính trị toàn cầu, Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào nội nhu - mà cốt lõi là sức mua và tiêu dùng cá nhân của hơn 100 triệu dân.
Tăng trưởng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng đời sống của người dân, kích thích thị trường trong nước phát triển mạnh mẽ.

Kiến trúc lại khu vực tư nhân: Phải có nhiều doanh nghiệp lớn mới dễ thành công
- Như ông vừa phân tích, doanh nghiệp tư nhân chính là lực lượng chủ chốt để hiện thực hóa các mũi giáp công này. Tuy nhiên, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay vẫn bị nhận xét là “li ti”, thiếu các “sếu đầu đàn” và dễ bị tổn thương. Ông có hiến kế gì để kiến trúc lại khu vực này theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân?
- Một nền kinh tế hội nhập sâu muốn thành công bắt buộc phải có nhiều doanh nghiệp lớn. Tham khảo kinh nghiệm xương máu của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, tôi khuyến nghị Chính phủ nên chia khu vực kinh tế tư nhân thành 3 nhóm chiến lược để có các chính sách “may đo” phù hợp, thay vì hỗ trợ chung chung:
Đối với nhóm các doanh nghiệp lớn: Nhà nước cần tạo cơ chế đối thoại để họ cùng chia sẻ tầm nhìn dài hạn với Chính phủ. Phải dùng các chính sách thuế, đất đai để khuyến khích, “ép” họ đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D), làm chủ công nghệ lõi và chuyển giao tri thức quản lý thông qua việc liên kết, dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong nước.
Đối với nhóm doanh nghiệp SME: kinh nghiệm của Nhật Bản, các cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống ngân hàng không chỉ cho vay vốn mà phải có thêm chức năng tư vấn, thẩm định và cải thiện các dự án đầu tư cho họ.
Chúng ta cần đào tạo và cấp chứng chỉ cho đội ngũ chuyên gia tư vấn SME, đồng thời cơ quan Trung ương phải lập định kỳ hằng quý bản tin thị trường, công nghệ và phát hành Sách trắng SME hằng năm để định hướng đường đi cho doanh nghiệp nhỏ.
Đối với nhóm hộ kinh doanh cá thể (khu vực phi chính thức): đây là lực lượng rất lớn nhưng manh mún. Chính phủ phải có các biện pháp hành chính và ưu đãi tối giản để chuyển phần lớn khu vực này thành doanh nghiệp chính thức, thành SME.
Vì họ không có nguồn nhân lực và hiểu biết pháp lý, Nhà nước phải hỗ trợ tối đa, cắt giảm mọi thủ tục rườm rà trong quá trình chuyển đổi này.
- Có một nghịch lý là khi bàn về các mục tiêu tăng trưởng cao, người ta thường lo ngại sẽ phải đánh đổi bằng môi trường hoặc sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Bài toán hài hòa này cần giải như thế nào, thưa Giáo sư?
- Đây đúng là một thách thức lớn, và cũng là nội dung tôi đã thảo luận trong cuộc gặp với Tổng Bí thư Tô Lâm. Khát vọng tăng trưởng 2 con số của Việt Nam bắt buộc phải đi song song với phát triển bao trùm và phát triển bền vững.
Tăng trưởng kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và cải thiện an sinh xã hội cho người nghèo không phải là rào cản của tăng trưởng, mà chính là chất xúc tác để tăng trưởng kéo dài.
Nếu chúng ta phát triển kinh tế mà để thiên nhiên bị tàn phá, đạo đức xã hội suy thoái thì đó là một sự phát triển thất bại. Việt Nam có lợi thế của người đi sau, chúng ta hoàn toàn có thể chọn những công nghệ xanh ngay từ đầu để vừa bứt phá mạnh mẽ, vừa giữ được sự hài hòa với xã hội, với thiên nhiên, phát triển vì hạnh phúc thực chất của hơn 100 triệu người dân Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!