Vấn đề bạn quan tâm

Một số chính sách pháp luật quy định riêng với lao động nữ mang thai

PHẠM THỦY 07/06/2026 11:30

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng giới.

lao-dong-1-d11100cec3acfb8bf80a0f0a1a0a8477.jpg
Bộ luật Lao động có nhiều quy định bảo vệ quyền lợi lao động nữ. Ảnh: HUYỀN TRANG

Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đưa ra những quy định riêng đối với lao động nữ, góp phần tạo nên sự bình đẳng về mọi mặt giữa lao động nữ và lao động nam.

Theo điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được áp dụng biện pháp kỷ luật đối với người lao động trong thời gian mang thai và nghỉ thai sản, cũng như nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được yêu cầu hoặc sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong một số trường hợp như: mang thai từ tháng thứ 7 hoặc tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.

Theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động nữ có quyền yêu cầu chuyển công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 1 giờ làm việc hằng ngày trong trường hợp đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết.

Theo khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động khi hợp đồng lao động của lao động nữ hết hạn trong thời gian đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút/ngày trong thời gian làm việc để có thời gian cho việc cho con bú, vắt sữa, trữ sữa và nghỉ ngơi.

Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động, lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

PHẠM THỦY