Đời sống văn hóa

Di sản văn hóa mở rộng không gian phát triển trong thời đại số

TT (tổng hợp) 13/06/2026 13:12

Di sản văn hóa đang có thêm cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa nhờ chuyển đổi số, qua đó lan tỏa bản sắc dân tộc và tạo động lực phát triển mới.

disan.png
Trải nghiệm công nghệ thực tế ảo 3D - 360 tại Lễ hội Cổ Loa.

Di sản là nguồn lực cho công nghiệp văn hóa

Di sản văn hóa giữ vai trò nền tảng trong quá trình hình thành và phát triển công nghiệp văn hóa, bởi đây là nơi lưu giữ hệ giá trị, ký ức lịch sử, tri thức dân gian và bản sắc của cộng đồng. Nhiều quốc gia đã xem di sản văn hóa như một loại “vốn mềm” để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Hàn Quốc khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống trong điện ảnh, âm nhạc và thời trang để tạo nên làn sóng Hallyu nổi tiếng toàn cầu. Nhật Bản xây dựng thành công các sản phẩm manga, anime dựa trên lịch sử và văn hóa dân tộc. Nhiều quốc gia châu Âu biến bảo tàng, di tích lịch sử thành điểm đến trải nghiệm văn hóa hấp dẫn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế sáng tạo.

Từ những kinh nghiệm đó có thể thấy, di sản văn hóa là nền tảng nội sinh để hình thành sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời đại kinh tế sáng tạo.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, với hàng nghìn lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật, tín ngưỡng dân gian, tri thức bản địa, nghề thủ công truyền thống và không gian văn hóa đặc sắc.

Đây là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, đồng thời là cảm hứng sáng tạo cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Những chất liệu này có thể được chuyển hóa thành chương trình nghệ thuật, điện ảnh, thiết kế sáng tạo, du lịch văn hóa, nội dung số hoặc các sản phẩm truyền thông hiện đại.

Nếu trước đây di sản chủ yếu tồn tại trong không gian vật lý và trong phạm vi cộng đồng sở hữu, thì ngày nay công nghệ số đã đưa di sản vượt qua giới hạn không gian, thời gian, mở ra cơ hội để di sản văn hóa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.

Nếu được khai thác trên cơ sở sáng tạo, công nghệ và thị trường đương đại, di sản văn hóa không chỉ mang giá trị tinh thần mà còn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế.

Chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cách thức bảo tồn, quảng bá và khai thác di sản văn hóa. Các công nghệ như số hóa dữ liệu, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nền tảng truyền thông số đang mở ra cơ hội mới để di sản văn hóa tiếp cận công chúng rộng rãi hơn.

Một lễ hội truyền thống, một loại hình nghệ thuật dân gian hay một tri thức bản địa nếu được truyền thông hiệu quả trên các nền tảng số có thể nhanh chóng lan tỏa ra quốc tế, trở thành nguồn cảm hứng cho các sản phẩm sáng tạo và góp phần xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia.

Công nghệ số cũng góp phần kéo dài vòng đời của di sản thông qua quá trình tái sáng tạo liên tục trong đời sống đương đại. Di sản không còn chỉ tồn tại như một giá trị tĩnh mà có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm văn hóa mới, phù hợp với nhu cầu xã hội hiện đại.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa cho biết chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách thức sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng văn hóa. Một di sản nếu được số hóa tốt có thể trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho giáo dục, du lịch, truyền thông, điện ảnh, thiết kế và nhiều lĩnh vực khác.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ, một ý tưởng sáng tạo nếu gắn với công nghệ có thể nhanh chóng trở thành sản phẩm thương mại có giá trị. Công nghệ số không chỉ mở rộng thị trường mà còn tạo ra mô hình kinh doanh mới, giúp sản phẩm văn hóa tiếp cận người dùng toàn cầu với chi phí thấp hơn nhưng hiệu quả cao hơn.

Nhiều mô hình số hóa di sản đã cho thấy hiệu quả rõ nét. Các bảo tàng trực tuyến, tour tham quan thực tế ảo, triển lãm số, ứng dụng thuyết minh tự động bằng trí tuệ nhân tạo hay các dự án tái hiện di sản bằng công nghệ 3D đang thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Không gian số cũng tạo điều kiện để giá trị văn hóa truyền thống được kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại. Một câu chuyện dân gian có thể trở thành phim hoạt hình; truyền thuyết lịch sử có thể được phát triển thành trò chơi điện tử; một làn điệu dân ca có thể được tái sáng tạo trên các nền tảng âm nhạc số.

Quá trình tái tạo sáng tạo đó giúp di sản không bị đóng khung trong quá khứ mà tiếp tục sống trong hiện tại, đồng thời tạo thêm giá trị mới cho cộng đồng và thị trường văn hóa.

disan-2.png
Bảo tàng tỉnh Nghệ An nỗ lực số hóa các hiện vật khảo cổ, tư liệu về thời chiến, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể...

Cần hệ sinh thái đồng bộ để phát huy giá trị di sản

Bên cạnh những cơ hội lớn, quá trình số hóa và khai thác di sản cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính xác thực văn hóa, tránh xu hướng thương mại hóa giản đơn hoặc làm mất đi chiều sâu bản sắc của di sản trong môi trường số.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân, mặc dù di sản văn hóa được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa, thực tiễn ở Việt Nam hiện nay cho thấy quá trình chuyển hóa di sản thành động lực phát triển vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức.

Di sản chủ yếu vẫn được nhìn nhận như đối tượng cần lưu giữ, bảo vệ hoặc phục dựng, trong khi vai trò của di sản như một nguồn vốn văn hóa, chất liệu sáng tạo hay tài nguyên cho kinh tế sáng tạo chưa được quan tâm đúng mức.

Điều này dẫn đến tình trạng nhiều di sản tồn tại trong trạng thái đóng khung, thiếu khả năng kết nối với đời sống đương đại và thị trường văn hóa.

Việt Nam cũng chưa hình thành được một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ dựa trên nền tảng di sản. Sự liên kết giữa nghệ nhân, cộng đồng thực hành di sản, doanh nghiệp sáng tạo, công nghệ và thị trường còn rời rạc.

Không ít sản phẩm văn hóa mới chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu chiến lược thương hiệu, thiếu nền tảng phân phối và chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sáng tạo, sản xuất, quảng bá đến tiêu dùng văn hóa. Điều này khiến tiềm năng của di sản chưa được chuyển hóa hiệu quả thành giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Một thách thức đáng chú ý khác là nguy cơ thương mại hóa và làm biến dạng di sản trong quá trình khai thác. Trong bối cảnh thị trường và truyền thông số phát triển mạnh, một số hoạt động khai thác di sản có xu hướng chạy theo tính giải trí hoặc thị hiếu ngắn hạn, làm mất đi chiều sâu biểu tượng và giá trị tinh thần vốn có.

Ngoài ra, hạn chế về nguồn nhân lực và công nghệ cũng là vấn đề lớn. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi đội ngũ vừa có tri thức về văn hóa truyền thống, vừa có năng lực sáng tạo, công nghệ và tư duy thị trường. Tuy nhiên, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu liên ngành này vẫn còn thiếu.

Hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu số và các nền tảng hỗ trợ sáng tạo văn hóa ở nhiều địa phương cũng chưa phát triển đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng khai thác và lan tỏa giá trị di sản trong môi trường số.

Để di sản văn hóa thực sự trở thành nền tảng nội sinh cho sự phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Nhân cho rằng cần có những định hướng phát triển đồng bộ về tư duy, thể chế, nguồn lực và công nghệ.

Trước hết, cần chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang bảo tồn thông qua phát triển. Việc bảo tồn di sản chỉ thực sự bền vững khi di sản tiếp tục tồn tại trong cộng đồng, được tái sáng tạo và tạo ra giá trị mới phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên nền tảng di sản, kết nối giữa cộng đồng thực hành di sản, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo, cơ sở đào tạo, công nghệ và thị trường.

Chỉ khi hình thành được chuỗi giá trị đồng bộ từ sáng tạo, sản xuất, quảng bá đến tiêu dùng văn hóa, di sản mới có thể chuyển hóa hiệu quả thành giá trị kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Vũ cho rằng công nghiệp văn hóa không phải là sự gia tăng đơn thuần số lượng sản phẩm văn hóa, mà cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái phát triển, nơi các yếu tố sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tương tác để tạo ra giá trị mới.

Theo ông, khi một sản phẩm vừa giữ được hồn cốt dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa có khả năng cạnh tranh quốc tế thì văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển.

Các chuyên gia văn hóa nhận định Nghị quyết 80-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và đến năm 2045 trở thành một trong những trụ cột phát triển bền vững của đất nước.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc phát huy giá trị di sản trong môi trường số không chỉ là yêu cầu của ngành văn hóa mà còn là nhiệm vụ chiến lược của cả hệ thống chính trị. Khi di sản được bảo tồn đúng cách, được tái sáng tạo bằng công nghệ và được kết nối hiệu quả với thị trường, văn hóa sẽ có thêm động lực để lan tỏa, đóng góp thiết thực vào phát triển đất nước.

TT (tổng hợp)