Số hóa quản lý vùng trồng trong sản xuất nông nghiệp
Số hóa quản lý, giám sát vùng trồng là xu thế tất yếu, điều kiện sống còn để nâng cao khả năng cạnh tranh trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của thị trường.

Yêu cầu từ thực tiễn
Những năm gần đây, thay vì canh tác theo kinh nghiệm, thói quen thì người trồng vải xuất khẩu ở Hải Phòng đã dần thành thạo với công nghệ để hỗ trợ sản xuất. Điện thoại thông minh kết nối mạng không những giúp người dân tìm kiếm thông tin, kiến thức về kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh mà còn là công cụ hữu ích để quản lý vùng sản xuất thông qua các nền tảng, ứng dụng.
Ông Phạm Văn Thạch, Tổ trưởng Tổ sản xuất vải xuất khẩu số 10, thôn Thúy Lâm, xã Thanh Hà cho biết, vùng trồng vải xuất khẩu được kiểm định chặt chẽ, giám sát gắt gao từng công đoạn và phải lưu trữ thông tin. Vì thế, việc ghi chép nhật ký giấy không phù hợp mà phải số hóa dữ liệu. Điều này cũng tạo thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc sản phẩm, gia tăng niềm tin của khách hàng, đối tác. “Dù việc số hóa mới chỉ là bước khởi đầu, vẫn chưa có sự liên thông đồng bộ nhưng chúng tôi tin rằng thời gian tới sẽ có những chuyển biến tích cực. Công nghệ giúp nông dân sản xuất bài bản, chuyên nghiệp và hiện đại hơn”, ông Thạch nói.
Phần lớn thành viên của Hợp tác xã Tân Minh Đức ở xã Trường Tân là người lớn tuổi song trước làn sóng công nghệ số, họ cũng nhanh chóng thích ứng.
Gia đình bà Nguyễn Thị Quả ở thôn Nam Cầu có 2,4 mẫu nhà màng trồng dưa lưới. Sản xuất ứng dụng công nghệ cao giúp bà Quả nhạy bén hơn với công nghệ số. Theo bà Quả, gia đình bà đã đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, cảm biến thông minh cảnh báo những biến đổi về nhiệt độ, độ ẩm trong nhà màng. Ngoài ra, thông tin về tình hình sinh trưởng của cây trồng cũng được cập nhật trên nhật ký điện tử. Từ đó ứng dụng có những gợi ý điều chỉnh kỹ thuật chăm sóc phù hợp.

Không chỉ số hóa nhằm phục vụ giám sát ở quy mô hộ sản xuất, Hợp tác xã Tân Minh Đức cũng đang thử nghiệm nền tảng không gian số vùng trồng. Trong đó tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu thành viên sản xuất với bản đồ trực quan. Mọi biến động được cập nhật thường xuyên, liên tục để phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất.
Ông Hoàng Anh Thư, Phó Giám đốc Hợp tác xã Tân Minh Đức cho hay: “Số hóa vùng trồng mang lại nhiều lợi ích. Không những tạo thuận lợi cho công tác báo cáo, thống kê mà còn góp phần minh bạch nguồn gốc xuất xứ. Đây là xu thế tất yếu để sản phẩm dưa lưới của hợp tác xã tiếp cận thị trường phân khúc cao”.
Từng bước thiết lập không gian số vùng trồng
Thành phố Hải Phòng là địa phương có tiềm năng phát triển nông nghiệp với nhiều vùng chuyên canh tập trung. Đây là lợi thế để thành phố hướng tới sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Hiện Hải Phòng đã xây dựng được 475 mã số vùng trồng, gồm 270 mã xuất khẩu và 205 mã tiêu thụ trong nước. Việc quản lý, giám sát đang từng bước được số hóa, dần tạo ra sự liên kết dữ liệu nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển thị trường.

Bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số đánh giá: “Hải Phòng hội tụ đầy đủ điều kiện thiết lập không gian số vùng trồng để phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh. Tuy nhiên thành phố cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số vùng trồng thống nhất, đồng bộ và liên thông. Nền tảng này phục vụ đơn vị, hộ sản xuất, cơ quan quản lý, doanh nghiệp phân phối, tiêu thụ. Từ đó góp phần quản lý hiệu quả, giám sát kịp thời chuỗi liên kết từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm”.
Theo Trung tâm Đổi mới sáng và Ứng dụng khoa học công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ), đơn vị đang rà soát, triển khai số hóa thông tin, dữ liệu vùng trồng. Trong đó, ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, thiết lập bản đồ số vùng trồng, nhật ký điện tử. Từ thông tin đầu vào sẽ đưa ra những phân tích, cảnh báo, đánh giá về sản xuất, thị trường để định hướng phát triển phù hợp.
Sự hỗ trợ của công nghệ số không những hạn chế được rủi ro của ngành Nông nghiệp vốn mang tính mùa vụ, phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà còn đặt nền tảng vững chắc để hướng đến nông nghiệp hiện đại, thông minh.