Khoa học - Công nghệ

Tăng tốc thương mại hóa sản phẩm khoa học, công nghệ

TT (tổng hợp) 02/07/2026 06:57

Nghị quyết 57 mở ra cơ chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thách thức hiện nay là đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để tạo giá trị cho nền kinh tế.

photo-1780564605591-1780564606075303860122.jpg
Giới thiệu ứng dụng khoa học công nghệ.

Nâng chất lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ

Nghị quyết 57 đã mở ra không gian phát triển mới cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với nhiều cơ chế, chính sách và chương trình trọng điểm. Tuy nhiên, từ nền tảng chính sách đến việc hình thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao vẫn còn khoảng cách, đòi hỏi phải thúc đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đưa nhanh thành tựu khoa học vào thực tiễn để tạo động lực tăng trưởng kinh tế.

Một trong những yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia là cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Dù số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, chất lượng và năng lực làm chủ công nghệ vẫn còn nhiều dư địa để nâng cao.

Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, cả nước hiện có hơn 81.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, doanh nghiệp công nghệ số chiếm hơn 78.000 doanh nghiệp; doanh nghiệp nghiên cứu phát triển gần 1.900; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hơn 500; doanh nghiệp khoa học và công nghệ 260; doanh nghiệp công nghệ cao 32.

Những con số này cho thấy hệ sinh thái doanh nghiệp phát triển nhanh về quy mô, song lực lượng doanh nghiệp tạo ra công nghệ nguồn, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo vẫn còn mỏng.

Xét theo loại hình kinh tế, khu vực tư nhân tiếp tục giữ vai trò chủ đạo khi chiếm hơn 92% tổng số doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 7%, trong khi doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Điều này vừa tạo lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp tư nhân, đồng thời phát huy vai trò của khu vực đầu tư nước ngoài trong chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Doanh nghiệp công nghệ số tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khi chỉ trong hai quý đầu năm 2026 đã có hơn 4.200 doanh nghiệp ICT thành lập mới. Tuy nhiên, vẫn còn hàng chục nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký hoặc tạm ngừng kinh doanh, phản ánh tính ổn định của hệ sinh thái doanh nghiệp chưa cao.

Đáng chú ý, doanh thu ngành công nghệ số hiện vẫn chủ yếu đến từ lĩnh vực phần cứng với tỷ trọng khoảng 85,6%, trong khi các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như phần mềm, dịch vụ số và nội dung số chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Điều này cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào hoạt động gia công, lắp ráp của khu vực đầu tư nước ngoài hơn là năng lực sáng tạo nội sinh.

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu phát triển, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn quốc tế nhằm từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bên cạnh sự phát triển của doanh nghiệp, hoạt động xác lập quyền sở hữu công nghiệp cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, số đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, số văn bằng bảo hộ được cấp và số đơn sáng chế của các chủ thể Việt Nam đều tăng mạnh so với năm trước; toàn bộ số đơn tồn đọng của các năm trước đã được xử lý.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, số đơn đăng ký tiếp tục tăng gần 15%, trong đó đơn sáng chế của các chủ thể Việt Nam tăng hơn 32% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều đơn đăng ký tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, blockchain, robot, tự động hóa và an ninh mạng.

Hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp cũng tăng trưởng tích cực, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa, dịch vụ và tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo Trung ương đánh giá việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do hệ thống môi giới, định giá, tư vấn tài chính và các dịch vụ trung gian còn thiếu đồng bộ, khiến quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu diễn ra chậm.

Song song đó, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục được hoàn thiện. Hệ thống cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước được bổ sung với nhiều chính sách đặc thù về tiền lương, đãi ngộ, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh.

Đào tạo nhân lực STEM cũng đạt kết quả tích cực với hơn 771.000 người học, chiếm gần 30% quy mô giáo dục đại học. Chính sách học bổng được chuyển từ hỗ trợ cơ sở đào tạo sang hỗ trợ trực tiếp người học nhằm khuyến khích sinh viên theo học các ngành công nghệ chiến lược. Cùng với đó, các chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng, đào tạo vi mạch bán dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc tiếp tục được triển khai.

Tuy vậy, Ban Chỉ đạo Trung ương cho rằng việc thu hút và giữ chân nhân tài vẫn chưa đạt kỳ vọng do cơ chế sử dụng, giao nhiệm vụ và đãi ngộ chưa thực sự gắn với kết quả nghiên cứu cũng như các nhiệm vụ lớn của quốc gia.

cong-nghe-so-1-1779940983288528068352.jpg
Việt Nam hiện nay tập trung vào những động lực tăng trưởng mới như đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Thúc đẩy AI và kinh tế dữ liệu

Một trong những điểm nhấn nổi bật trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 là thúc đẩy phát triển trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu và đô thị thông minh.

Đến nay, hệ thống pháp luật về chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho phát triển các sản phẩm, dịch vụ AI. Nhiều cơ quan Trung ương và địa phương đã ứng dụng AI trong xử lý văn bản, phân tích dữ liệu, nhận dạng hình ảnh, dự báo và cung cấp dịch vụ công.

Nhiều doanh nghiệp lớn như Viettel, VNPT, VinAI và Zalo tiếp tục phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt. Trong khi đó, FPT hợp tác với NVIDIA xây dựng nhà máy trí tuệ nhân tạo và phát triển các sản phẩm AI tạo sinh.

Tuy nhiên, việc ứng dụng AI vẫn chưa đồng đều. Phần lớn giải pháp hiện mới dừng ở hỗ trợ tra cứu, tổng hợp thông tin, trong khi số quy trình được thiết kế lại hoàn toàn trên nền tảng AI còn ít. Hạ tầng tính toán, dữ liệu và nguồn nhân lực chuyên sâu vẫn là những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.

Đối với kinh tế dữ liệu, nhiều nền tảng khai thác dữ liệu đã được triển khai trong các lĩnh vực y tế, ngân hàng, giao thông, thuế và an sinh xã hội. Dù vậy, thị trường dữ liệu vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Việc mở dữ liệu, định giá dữ liệu, xây dựng doanh nghiệp dữ liệu và phát triển các sản phẩm từ dữ liệu chưa tạo được giá trị kinh tế rõ nét.

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương, dữ liệu mở và khả năng liên thông dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng trong giai đoạn tới nếu sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế khai thác hiệu quả.

Cùng với đó, hệ thống khu công nghệ cao và các đô thị thông minh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều địa phương triển khai các dự án quy mô lớn gắn với đổi mới sáng tạo và công nghệ số; các đô thị thông minh bước đầu hình thành hệ thống điều hành tập trung, ứng dụng dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý giao thông, y tế, quy hoạch và cung cấp dịch vụ công.

Tuy nhiên, dữ liệu vẫn còn phân tán, khả năng kết nối giữa các hệ thống chưa cao và hiệu quả kinh tế - xã hội cần tiếp tục được lượng hóa rõ hơn.

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã từng bước được hoàn thiện. Nhiều chương trình lớn được khởi động, tạo nền tảng phát triển công nghệ chiến lược, hạ tầng nghiên cứu, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh tế dữ liệu.

Dù vậy, Ban Chỉ đạo Trung ương cũng đánh giá phần lớn kết quả hiện mới dừng ở giai đoạn hoàn thiện cơ chế, chuẩn bị đầu tư hoặc khởi động triển khai. Số công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thương mại hóa, nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra giá trị kinh tế và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng vẫn còn hạn chế.

Trong bối cảnh thời gian thực hiện các mục tiêu năm 2026 không còn nhiều, các bộ, ngành và địa phương cần đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ được giao, huy động hiệu quả nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu để nhanh chóng chuyển hóa chủ trương, chính sách thành công nghệ, sản phẩm và động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Đây cũng là thước đo quan trọng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết 57.

TT (tổng hợp)