'Vua chèo' Trần Đình Ngôn và hành trình giữ hồn nghệ thuật dân tộc
TS Trần Đình Ngôn dành trọn đời gắn bó với chèo, sáng tác hàng trăm kịch bản, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị sân khấu truyền thống.

Định mệnh với chèo
Nhà viết chèo, TS Trần Đình Ngôn (sinh năm 1942 ở xã An Phú, thành phố Hải Phòng).
Ông được mệnh danh là “vua chèo”, sáng tác hàng trăm vở chèo với nhiều đề tài khác nhau. Số kịch bản của ông tham gia các hội diễn cũng đạt được nhiều Huy chương vàng, Huy chương bạc. Trong cuốn sách “Chèo - nhận thức từ một phía” của PGS Tất Thắng chọn 40 vở chèo tiêu biểu của thế kỷ XX, Trần Đình Ngôn có 11 vở. Ông cũng là người có đóng góp nhiều kịch bản nhất qua các kỳ hội diễn sân khấu chèo toàn quốc. Riêng với Hải Phòng, ông đã đóng góp tới trên 40 kịch bản trong chương trình nghệ thuật của Đoàn Chèo Hải Phòng và Nhà hát Chèo Hải Dương từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay.
Năm 2007, ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Năm 2017, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Con đường đến với chèo của ông không phải là sự ngẫu nhiên, mà là một định mệnh được sắp đặt bởi lòng tự tôn dân tộc và tình yêu tha thiết với cội nguồn. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tiếng gọi từ những tích chèo cổ, từ tiếng nhị đã kéo ông rẽ sang một lối đi đầy gian truân nhưng cũng rất vinh quang: nghiên cứu và sáng tác kịch bản sân khấu truyền thống.
Năm 1996, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài về nghệ thuật chèo - một cột mốc khẳng định nền tảng lý luận vững chắc của ông nhưng không chọn làm một học giả ngồi trong tháp ngà lý thuyết. Ông lao vào đời sống thực tế của các đoàn chèo, từ Trung ương đến các địa phương, viết như thể nếu dừng lại, mạch sống của chèo sẽ bị ngắt quãng.
Ông chia sẻ với một nụ cười hóm hỉnh nhưng ánh mắt xa xăm: "Người ta bảo viết chèo thời nay là chuốc lấy cái nghèo, cái khổ nhưng nếu ai cũng quay lưng, thì ai sẽ giữ lại cái hồn cốt của cha ông? Viết chèo với tôi không phải là một nghề để mưu sinh, nó là một thứ nghiệp, một món nợ ân tình với tổ tiên mà tôi phải trả cho bằng hết".
Cái hay trong kịch bản chèo của Trần Đình Ngôn chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy khoa học biện chứng và tâm hồn bay bổng, nhạy cảm của một nghệ sĩ dân gian. Ông không sa đà vào việc sao chép văn học cổ một cách máy móc, mà biết cách chọn lọc những gì tinh túy nhất.
Dưới ngòi bút của ông, những nhân vật lịch sử hay những con người trong huyền thoại không còn là những bức tượng gỗ vô tri trên bệ thờ, họ sống động, có góc khuất, có khát vọng và có cả những bi kịch rất đời thường.
Xem chèo Trần Đình Ngôn viết, khán giả vừa được thỏa mãn cái thính giác bằng những câu từ mượt mà, đúng niêm luật của các làn điệu cổ, vừa được thử thách lý trí bằng những nút thắt kịch tính hiện đại. Ông chính là người đã góp công lớn đưa những vở chèo như: Duyên nợ ba sinh; Những vần thơ thép; Vạn Kiếp truyền thư; Côn Sơn hiền sĩ; Nam Dược thánh nhân… trở thành những tác phẩm mẫu mực, đạt nhiều huy chương vàng tại các hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.
Khát vọng và trăn trở

Khi hỏi ông về bí quyết làm nên sức cuốn hút của một vở chèo trong thời đại kỹ thuật số, khi giới trẻ bận rộn với điện thoại thông minh và các hình thức giải trí thời thượng, ông bảo muốn giữ được chân khán giả, chèo phải chuyển mình, nhưng chuyển mình không có nghĩa là đánh mất bản sắc.
Trần Đình Ngôn ví nghệ thuật chèo như một cái "bình cổ". Nhiệm vụ của người biên kịch hiện đại là phải biết rót vào đó thứ "rượu mới" chính là hơi thở của thời đại, là những vấn đề nhức nhối của xã hội hôm nay, là tâm tư của con người thế kỷ XXI. Nếu rượu cũ đã nhạt, bình lại bám bụi, chèo sẽ chết. Nhưng nếu đập vỡ bình để thay bằng một thứ tạo hình xa lạ, đó không còn là chèo nữa.
"Chèo có ngôn ngữ riêng của nó, đó là ngôn ngữ của tự sự, trữ tình và ước lệ. Anh có thể viết về đề tài hiện đại, về chống tham nhũng, về tình yêu đôi lứa thời nay, nhưng cấu trúc kịch bản và cách hành văn phải giữ được chất chèo. Khán giả bây giờ tinh tế lắm, họ vào rạp là để xem chèo chuẩn mực, chứ không phải xem một thứ lai căng", ông nhấn mạnh.
Nỗi trăn trở lớn nhất hiện nay của TS Trần Đình Ngôn không nằm ở sức sáng tạo của chính ông bởi ở tuổi này, ông vẫn viết, vẫn trăn trở trên từng bản thảo mà là lớp người kế cận. Ông lo lắng khi thấy đội ngũ tác giả viết chèo ngày càng thưa thớt, các cây bút trẻ có xu hướng chạy theo những kịch bản dễ dãi, thiếu đi sự đào sâu về văn hóa dân gian và vốn sống thực tế.
Chèo đòi hỏi người viết phải thấu hiểu văn học cổ, giỏi chữ Hán - Nôm, nhuần nhuyễn các điệu vỉ, vãn, sổng... Bản thân ông đã dành cả đời để tích lũy những kiến thức đó, và ông luôn sẵn sàng truyền dạy lại cho bất kỳ ai có lòng say mê.
Sau khi tốt nghiệp THPT, TS Trần Đình Ngôn không thi đại học mà gia nhập đoàn chèo Tả Ngạn từ tháng 6/1962, làm giáo viên bổ túc văn hóa và phấn đấu để trở thành một tác giả chèo theo định hướng đào tạo của đoàn.
Năm 1980, ông tốt nghiệp đại học tại chức tại khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1989, ông chuyển về công tác tại tạp chí sân khấu. Năm 1996, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn (sau đổi là tiến sĩ ngữ văn).
Từ đây, ông kết hợp vừa sáng tác kịch bản vừa nghiên cứu khoa học chuyên sâu về nghệ thuật chèo. Năm 1998, ông chuyển về công tác tại Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, làm Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Sân khấu, đồng thời tham gia đào tạo các nghệ sĩ chèo và các cán bộ nghiên cứu về chèo. Ông đã trực tiếp hướng dẫn nhiều thạc sĩ và một số tiến sĩ có đề tài nghiên cứu về chèo.