Quy định về các hành vi gây lãng phí
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 266/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.

Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điều 4, điều 5, khoản 2 điều 9, khoản 3 điều 12, điều 13, điều 15, khoản 2 điều 16, điều 17 và khoản 2 điều 24 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15.
Theo nghị định, hành vi gây lãng phí bao gồm các hành vi được quy định tại điều 4 Luật số 110/2025/QH15 và các hành vi cụ thể sau:
Trong tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động khu vực nhà nước, các hành vi gây lãng phí gồm:
a) Thành lập, tổ chức lại cơ quan, tổ chức, đơn vị không đảm bảo điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gây lãng phí;
b) Bố trí số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cấp phó của người đứng đầu phòng thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị vượt mức quy định, trừ trường hợp được phép bố trí số lượng cấp phó cao hơn theo quy định của pháp luật;
c) Giao biên chế không phù hợp với quy định pháp luật về căn cứ xác định biên chế công chức, gây lãng phí;
d) Tuyển dụng công chức, tiếp nhận vào làm công chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, gây lãng phí;
đ) Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức không đúng thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, loại hợp đồng và thời hạn ký kết hợp đồng theo quy định, gây lãng phí;
e) Tuyển dụng viên chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, quỹ tiền lương và nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị sự nghiệp công lập, gây lãng phí;
g) Ký hợp đồng làm việc với viên chức không phù hợp với quy định của pháp luật, gây lãng phí;
h) Ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ không phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định, gây lãng phí;
i) Áp dụng chính sách tuyển chọn, thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý không đúng quy định của pháp luật, gây lãng phí;
k) Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức không căn cứ vào năng lực của công chức, nhu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, dẫn đến công chức được điều động, biệt phái không được bố trí, sử dụng hoặc công chức được luân chuyển không đạt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ hoặc theo yêu cầu của chức danh được quy hoạch, gây lãng phí;
l) Đào tạo, bồi dưỡng không căn cứ vào vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, gây lãng phí.
Nghị định cũng xác định hành vi cố ý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công không đúng quy định dẫn đến kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt là hành vi gây lãng phí.
Đối với quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng, các hành vi gây lãng phí gồm: khai thác nước vượt hạn ngạch đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định gây ra hạn hán, thiếu nước; phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đảm bảo điều kiện về năng lực dẫn đến đất để thực hiện dự án đầu tư không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án đầu tư, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai.
Nghị định nêu rõ tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo khoản 3 điều 37 Luật số 110/2025/QH15 và các quy định pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, nghị định quy định các nhóm hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí theo khoản 1 điều 5 Luật số 110/2025/QH15.
Cụ thể, các hành vi vi phạm gồm: không ban hành hoặc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định; ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật; không tổ chức thực hiện, tổ chức thực hiện không đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí; tổ chức thực hiện không đúng tiến độ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí; không phân công trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.
Nghị định cũng quy định các hành vi vi phạm về báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí như không báo cáo, báo cáo không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực.
Đối với cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí, các hành vi vi phạm gồm không cập nhật hoặc cập nhật không đầy đủ dữ liệu; cập nhật không đúng thời hạn; cố ý cập nhật thông tin, dữ liệu không chính xác, không trung thực.
Các hành vi vi phạm khác được quy định gồm: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về công khai thông tin; vi phạm trong việc lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí; cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm toán, kiểm tra; cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo; vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân; vi phạm trong tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí.
Về công tác kiểm tra, nghị định quy định Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí đối với các nội dung quy định tại khoản 1 điều 23 Nghị định trong phạm vi cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương, UBND cấp tỉnh thực hiện kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Nghị định, trừ các nội dung quy định tại điểm d và điểm e khoản 2 điều 17 Luật số 110/2025/QH15.