Khi chính sách dân số đến gần hơn với người dân
Luật Dân số có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận chính sách dân số, từ trọng tâm kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.

Chính sách hướng tới từng nhóm dân số
Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề dân số đan xen. Mức sinh trung bình cả nước khoảng 1,93 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ; tại nhiều địa phương, mức sinh đã xuống dưới mức sinh thay thế. Cùng với đó là chênh lệch mức sinh giữa các vùng, mất cân bằng giới tính khi sinh và quá trình già hóa dân số. Những vấn đề này đòi hỏi chính sách dân số không chỉ tập trung vào việc điều chỉnh mức sinh mà phải hướng tới chất lượng dân số và chất lượng cuộc sống.
Điểm đáng chú ý của Luật Dân số là cách tiếp cận theo từng nhóm đối tượng. Với các gia đình trẻ, nhất là người trong độ tuổi sinh con, chính sách tập trung giảm bớt một phần áp lực trong quá trình mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ. Lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng; người chồng cũng được hưởng chế độ nghỉ khi vợ sinh con thứ hai theo quy định. Đây là những chính sách trực tiếp liên quan đến việc chăm sóc trẻ trong những tháng đầu đời.
Cùng với chính sách về thai sản, các quy định về hỗ trợ phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi tại địa phương có mức sinh thấp và ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội hướng tới những nhu cầu thiết thực của các gia đình trẻ. Mục tiêu không chỉ là khuyến khích sinh con mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân có thể thực hiện mong muốn sinh và nuôi con trong điều kiện phù hợp.
Nghị định 168/2026/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực cùng ngày với Luật Dân số, quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật, tạo cơ sở để các chính sách mới được triển khai thống nhất trong thực tế.
Không chỉ hướng tới các gia đình trẻ, Luật Dân số còn đặt vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dân số ngay từ những năm tháng đầu đời. Với người cao tuổi, chính sách chú trọng chăm sóc sức khỏe, phát triển các mô hình chăm sóc tại cộng đồng, huy động sự tham gia của gia đình và xã hội, đáp ứng yêu cầu thích ứng với quá trình già hóa dân số.
Cách thiết kế chính sách theo từng nhóm đối tượng cho thấy công tác dân số ngày càng gắn chặt với đời sống xã hội. Mỗi nhóm dân cư có nhu cầu khác nhau nên cần những giải pháp phù hợp, thay vì một chính sách chung. Từ việc sinh con, nuôi con, chăm sóc sức khỏe đến nhà ở, việc làm và chăm sóc người cao tuổi, chính sách dân số được đặt trong tổng thể các vấn đề an sinh và phát triển.
Người lao động đón nhận, hưởng lợi thiết thực

Những thay đổi này nhanh chóng nhận được sự quan tâm của người lao động, nhất là công nhân tại các khu công nghiệp - nhóm lao động trẻ, đang trong độ tuổi lập gia đình và sinh con.
Chị Trần Thị Lan, công nhân Khu công nghiệp Sài Đồng B (Hà Nội), đang nuôi con nhỏ, cho biết chị đặc biệt quan tâm những chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động. Theo chị, việc được nghỉ thai sản 7 tháng khi sinh con thứ hai là quy định thiết thực. Thêm một tháng ở nhà giúp người mẹ có thêm thời gian chăm sóc con, đồng thời phục hồi sức khỏe trước khi trở lại làm việc.
Không chỉ lao động nữ, nhiều lao động nam cũng quan tâm đến quy định nghỉ khi vợ sinh con. Anh Nguyễn Văn Hưng, công nhân Khu công nghiệp Đài Tư (Hà Nội), cho rằng những ngày đầu sau sinh là thời điểm người mẹ rất cần sự hỗ trợ của chồng. Có thêm thời gian ở nhà để cùng chăm con, đưa vợ đi khám và giải quyết công việc gia đình giúp giảm bớt áp lực cho cả hai.
Với những gia đình trẻ như vợ chồng anh Hưng, quyết định sinh con thường gắn với bài toán việc làm, nhà ở và chi phí nuôi con. Vì vậy, bên cạnh chế độ thai sản, những chính sách hỗ trợ sinh con và cơ hội tiếp cận nhà ở xã hội cũng tạo thêm tâm lý yên tâm khi xây dựng gia đình.
Sự quan tâm này cũng được ghi nhận tại cơ sở. Ông Lưu Hồng Vân, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần Hanel Xốp nhựa (Long Biên, Hà Nội), cho biết qua trao đổi với đoàn viên, nhiều người tìm hiểu những điểm mới của Luật Dân số bởi đây đều là chính sách gắn trực tiếp với cuộc sống. Trong đó, các nội dung về hỗ trợ khi sinh con thứ hai trước 35 tuổi và cơ hội tiếp cận nhà ở xã hội được nhiều đoàn viên quan tâm.
Theo ông Vân, người lao động mong muốn có việc làm ổn định, nơi ở phù hợp và điều kiện tốt hơn để chăm lo con cái. Do đó, việc chính sách dân số gắn với những nhu cầu cụ thể của đời sống giúp người dân dễ tiếp cận và thấy rõ hơn quyền lợi của mình. Công đoàn doanh nghiệp tiếp tục tuyên truyền để đoàn viên hiểu đúng, đầy đủ các quy định mới, đồng thời tiếp nhận những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
Từ những chính sách trên có thể thấy, hiệu quả của chính sách dân số không chỉ nằm ở các con số về mức sinh. Quan trọng hơn, chính sách phải giúp người dân giải quyết những vấn đề họ đang đối mặt trong từng giai đoạn của cuộc sống. Khi người mẹ có thêm thời gian chăm con, người cha có điều kiện đồng hành cùng gia đình, các cặp vợ chồng có thêm cơ hội tiếp cận nhà ở và các chính sách hỗ trợ, mục tiêu dân số được gắn với lợi ích cụ thể của mỗi gia đình.
Đó cũng là cách để chính sách dân số thực sự đi vào cuộc sống: bắt đầu từ những nhu cầu thiết thực của người dân, tạo thêm điều kiện để mỗi gia đình chủ động lựa chọn và từng bước xây dựng nền tảng cho phát triển dân số bền vững.
BH (theo TTXVN)