Hoàn thiện hành lang pháp lý về tài chính công đoàn
Nghị định số 105 quy định rõ nguồn, phương thức đóng, hỗ trợ và quản lý tài chính công đoàn, góp phần minh bạch, nâng cao hiệu quả hoạt động.
.jpg)
Nghị định 105/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 đã quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công đoàn về tài chính công đoàn, có hiệu lực từ ngày 16/5/2026.
Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần cụ thể hóa các quy định mới của Luật Công đoàn năm 2024, đồng thời tạo cơ sở thống nhất trong quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công đoàn theo hướng công khai, minh bạch, hiệu quả.
Nghị định gồm 6 chương, 18 điều, tập trung quy định các nội dung cốt lõi như: phương thức và thời hạn đóng kinh phí công đoàn; nguồn đóng; các trường hợp chậm đóng, không đóng; cơ chế ngân sách nhà nước hỗ trợ; miễn, giảm, tạm dừng đóng kinh phí công đoàn; quản lý, sử dụng kinh phí của tổ chức người lao động tại doanh nghiệp.
Quy định rõ phương thức, thời hạn và nguồn đóng kinh phí công đoàn
Một trong những điểm nổi bật của Nghị định 105/2026/NĐ-CP là quy định cụ thể phương thức đóng kinh phí công đoàn theo tháng hoặc theo chu kỳ 3 tháng, gắn với thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động.
Theo đó, đa số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước thực hiện đóng mỗi tháng một lần. Riêng các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh được lựa chọn đóng theo tháng hoặc 3 tháng một lần trên cơ sở đăng ký với tổ chức công đoàn.
Về thời hạn, nghị định quy định chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo đối với phương thức đóng theo tháng; đối với phương thức 3 tháng một lần, hạn cuối là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng. Quy định này giúp tăng tính chủ động cho đơn vị sử dụng lao động, đồng thời tạo căn cứ pháp lý rõ ràng cho công tác kiểm tra, giám sát thu kinh phí công đoàn.
Đặc biệt, nguồn đóng kinh phí công đoàn được phân định cụ thể theo từng loại hình đơn vị: từ ngân sách nhà nước, nguồn thu sự nghiệp, nguồn tài chính của doanh nghiệp hoặc chi phí sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong kỳ theo quy định của pháp luật. Điều này bảo đảm tính khả thi, phù hợp với cơ chế tài chính của từng chủ thể.
Nghị định đã làm rõ khái niệm “chậm đóng” và “không đóng” kinh phí công đoàn, tạo cơ sở quan trọng cho việc xử lý vi phạm.
Theo đó, chậm đóng là trường hợp đơn vị chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ sau thời hạn luật định. Không đóng là các hành vi như không trích nộp, không đóng đủ số tiền hoặc không đóng đủ số lao động thuộc diện phải đóng trong thời hạn 60 ngày kể từ khi hết hạn đóng.
Quy định này góp phần nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động, đồng thời bảo vệ nguồn lực phục vụ các hoạt động chăm lo, đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Bổ sung cơ chế ngân sách nhà nước hỗ trợ hoạt động công đoàn
Một điểm mới có ý nghĩa lớn là nghị định quy định khá toàn diện về ngân sách trung ương và ngân sách địa phương hỗ trợ hoạt động công đoàn.
Ngân sách trung ương hỗ trợ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đối với các nhiệm vụ như: đóng niên liễm quốc tế, hoạt động đơn vị sự nghiệp, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, dự án đầu tư phát triển…
Ở địa phương, ngân sách hỗ trợ Liên đoàn Lao động cấp tỉnh trong các nội dung tương tự như hoạt động đơn vị sự nghiệp, đào tạo cán bộ, thực hiện đề án, dự án, nhiệm vụ khoa học công nghệ và đầu tư phát triển.
Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm cân đối nguồn lực tài chính công đoàn, nhất là trong bối cảnh yêu cầu chăm lo người lao động ngày càng đa dạng, gắn với chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động công đoàn.
Nghị định 105/2026/NĐ-CP thể hiện rõ tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp khi bổ sung các cơ chế miễn, giảm, tạm dừng đóng kinh phí công đoàn trong trường hợp khó khăn khách quan. Cụ thể:
Miễn đóng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã giải thể hoặc phá sản.
Giảm mức đóng tối đa 20% trong thời gian không quá 6 tháng đối với đơn vị tiếp tục cắt giảm lao động sau thời gian tạm dừng.
Tạm dừng đóng tối đa 12 tháng khi gặp khó khăn do suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa hoặc phải dừng sản xuất từ 30 ngày trở lên.
Các quy định này vừa bảo đảm tính chia sẻ, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó, vừa giữ được sự ổn định và bền vững của nguồn tài chính công đoàn.
Một điểm rất mới của nghị định là quy định cụ thể việc phân phối, quản lý và sử dụng kinh phí công đoàn của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập theo Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo đó, Liên đoàn Lao động cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo phương thức, thời hạn và căn cứ phân phối kinh phí cho tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Kinh phí được phân phối dựa trên tỷ lệ quỹ tiền lương của người lao động là thành viên của tổ chức đó trên tổng quỹ tiền lương thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quy định này thể hiện bước tiến trong việc bảo đảm hài hòa giữa tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp.
Có thể khẳng định, việc ban hành Nghị định số 105/2026/NĐ-CP có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về tài chính công đoàn, là bước cụ thể hóa kịp thời tinh thần đổi mới của Luật Công đoàn năm 2024, đáp ứng yêu cầu phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.