Góc nhìn

Nghị quyết số 10-NQ/TW và cơ hội bứt phá của Hải Phòng

NGUYÊN HÀ 14/07/2026 11:45

Nghị quyết số 10-NQ/TW mở ra cơ hội để Hải Phòng kiến tạo hệ sinh thái thu hút FDI thế hệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

6 tháng đầu năm 2026, không chỉ tăng về quy mô, dòng vốn đầu tư vào thành phố đang chuyển mạnh sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn và lan tỏa chuỗi cung ứng. Trong ảnh: Khu Công nghiệp Tràng Duệ. Ảnh: Lê Dũng
Nghị quyết số 10- NQ/TW mở ra cơ hội để Hải Phòng kiến tạo hệ sinh thái thu hút FDI thế hệ mới. Trong ảnh: Khu công nghiệp Tràng Duệ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: LÊ DŨNG

Ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy thu hút và sử dụng nguồn lực quốc tế. Nghị quyết xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường.

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu trong thu hút và sử dụng FDI.

Đây không chỉ là sự thay đổi về chính sách, mà còn là sự thay đổi về cách tiếp cận. Thành công trong thu hút FDI sẽ không còn được đo bằng số lượng dự án hay quy mô vốn đăng ký, mà bằng hàm lượng công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, mức độ chuyển giao tri thức và những giá trị gia tăng mà khu vực FDI tạo ra cho nền kinh tế.

Những định hướng của nghị quyết cũng phản ánh xu thế cạnh tranh thu hút đầu tư trong giai đoạn hiện nay. Nếu trước đây, lợi thế chủ yếu của các địa phương nằm ở ưu đãi đầu tư hay chi phí sản xuất, thì nay nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến chất lượng thể chế, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia vào hệ sinh thái sản xuất toàn cầu.

Với những định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW, Hải Phòng đang có nhiều lợi thế để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra. Đây cũng là đòn bẩy giúp Hải Phòng tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cấp hạ tầng và hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp sinh thái hàng đầu cả nước.

6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn thu hút FDI của Hải Phòng đạt khoảng 3,1 tỷ USD, tăng 75% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế đến tháng 6/2026, toàn thành phố dự kiến có 1868 dự án FDI còn hiệu lực đến từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký khoảng 54 tỷ USD.

Đáng chú ý hơn, dòng vốn mới không chỉ tăng về quy mô mà còn chuyển dịch rõ nét về chất lượng. Các dự án tập trung vào công nghệ cao, điện tử, chip bán dẫn, logistics và công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại; nhiều tập đoàn lớn tiếp tục mở rộng đầu tư, hình thành các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều đó cho thấy Hải Phòng đang chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang thu hút công nghệ, tri thức, hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D) và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.

Kết quả trên không phải ngẫu nhiên. Nhiều năm qua, Hải Phòng kiên trì quan điểm thu hút đầu tư có chọn lọc, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và có khả năng lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước.

Cùng với việc đầu tư đồng bộ hạ tầng cảng biển, logistics, giao thông kết nối, phát triển các khu công nghiệp theo hướng hiện đại và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thành phố cũng đang tập trung kiến tạo, xây dựng hệ sinh thái thu hút đầu tư có sức cạnh tranh bền vững với điểm nhấn là Khu Kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, Khu Kinh tế ven biển phía nam và Khu Thương mại tự do.

Có thể thấy, với những nền tảng đã được tạo dựng cùng khát vọng trở thành trung tâm công nghiệp, logistics và đổi mới sáng tạo của khu vực, Hải Phòng có nhiều điều kiện để đi đầu trong hiện thực hóa mục tiêu nghị quyết đề ra.

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới trong thu hút FDI mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với các địa phương: Biến nguồn lực bên ngoài thành năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Đối với Hải Phòng, điều đó đòi hỏi tiếp tục đầu tư đồng bộ cho phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Chỉ khi doanh nghiệp trong nước đủ năng lực trở thành đối tác của các tập đoàn toàn cầu, giá trị gia tăng mới được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế, qua đó nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường năng lực tự chủ và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Thành công của Hải Phòng trong thời gian tới sẽ không chỉ được đo bằng số tỷ USD vốn đầu tư hay số lượng dự án được cấp phép, mà bằng khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, nơi doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cùng phát triển, cùng đổi mới sáng tạo và cùng tạo ra giá trị gia tăng cao.

Đây cũng là thước đo cho sức chống chịu, năng lực tự chủ và khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế. Khi hiện thực hóa được mục tiêu này, Hải Phòng không chỉ tiếp tục khẳng định sức hút đối với các nhà đầu tư quốc tế mà còn củng cố vai trò là cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước, tiên phong thực hiện tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW.

NGUYÊN HÀ