Thu phí bản quyền âm nhạc, hiểu đúng để thực hiện đúng
Từ những băn khoăn của các chủ cơ sở kinh doanh trước quy định thu tiền bản quyền âm nhạc, cho thấy cần tiếp tục đẩy mạnh truyền thông để chính sách được hiểu đúng và thực hiện đúng trong thực tiễn.
.jpg)
Những băn khoăn về thu phí bản quyền âm nhạc
Theo khảo sát của phóng viên, những ngày đầu áp dụng mức thu phí bản quyền âm nhạc, nhiều quán cà phê tại Hải Phòng vẫn lúng túng không biết cách thực hiện cho đúng. Đa phần các chủ cơ sở kinh doanh băn khoăn về cách tính phí, đơn vị thu và chi phí phát sinh.
Anh Nguyễn Thanh Tùng, chủ quán cà phê trên đường Văn Cao (phường Gia Viên) cho biết, nhiều năm nay quán vẫn mở nhạc phục vụ khách. Khi nghe thông tin từ ngày 1/7 phải trả tiền bản quyền nếu phát nhạc, anh khá lo lắng. Hiện chi phí thuê mặt bằng, nhân công, nguyên liệu, điện, nước đều tăng, khi phát sinh thêm khoản chi cho bản quyền âm nhạc, dù không quá lớn, vẫn tạo thêm áp lực đối với nhiều hộ kinh doanh nhỏ.
Cùng quan điểm, anh Lương Ngọc Tuấn, chủ quán cà phê tại phường Hải An cho rằng, bảo vệ quyền tác giả là cần thiết, nhưng đến nay, anh chưa thực sự hiểu mình phải nộp cho ai, căn cứ tính phí như thế nào, quyền lợi sau khi nộp ra sao và ai chịu trách nhiệm phân phối khoản tiền đó đến các tác giả.
Theo luật sư Nguyễn Thị Thùy, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng, nghĩa vụ trả tiền bản quyền âm nhạc khi sử dụng vào mục đích kinh doanh không phải quy định mới mà đã được ghi nhận từ Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2009, 2019, 2022 và 2025. Trước đó, Nghị định số 17/2023/NĐ-CP cũng quy định cụ thể việc trả phí bản quyền khi sử dụng âm nhạc tại nhà hàng, quán cà phê... Nghị định số 134/2026/NĐ-CP chỉ sửa đổi Nghị định số 17 nói trên và thêm cơ chế tính toán tiền bản quyền theo mức lương cơ sở mới từ ngày 1/7/2026, chứ không phải đặt ra một khoản phí mới.
Theo quy định, tổ chức, cá nhân sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh phải thỏa thuận với chủ sở hữu quyền hoặc tổ chức đại diện để trả phí bản quyền khi sử dụng.
Hiện Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) là một trong những tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả trong lĩnh vực âm nhạc theo phạm vi được các tác giả, chủ sở hữu quyền ủy quyền.
Tuy nhiên, bên cạnh quyền tác giả còn có quyền liên quan đối với người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Ngoài VCPMC, các chủ sở hữu cũng có thể ủy quyền cho các tổ chức đại diện tập thể khác thực hiện việc cấp phép và thu tiền bản quyền theo quy định của pháp luật.
Do đó, việc cơ sở kinh doanh làm việc với tổ chức nào phụ thuộc vào loại quyền đang được khai thác và phạm vi ủy quyền của từng tổ chức, chứ không phải mặc nhiên chỉ làm việc với VCPMC.
Luật sư Nguyễn Thị Thùy thông tin thêm, khi có người đến làm việc về tiền bản quyền, chủ quán không có nghĩa vụ phải thanh toán ngay mà có quyền yêu cầu cung cấp giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của tổ chức thu. Các tổ chức thu cũng phải công khai thông tin về tên tác giả, chủ sở hữu quyền, tên tác phẩm, đối tượng quyền liên quan, phạm vi ủy quyền, hiệu lực hợp đồng ủy quyền, hoạt động cấp phép, thu và phân chia tiền bản quyền.
Điều đó cho thấy, để chính sách đi vào thực tế vẫn còn là 1 khoảng trống cần cơ chế rõ ràng hơn cho cả người thực hiện và cơ quan quản lý.
Theo số liệu của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), năm 2025, nguồn thu bản quyền từ hoạt động sử dụng nhạc nền tại các nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, siêu thị và nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ đạt hơn 31,4 tỷ đồng, tăng khoảng 45% so với năm 2024.
Truyền thông để tạo đồng thuận

Theo ông Lê Như Hải, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố, việc thu tiền bản quyền không phải câu chuyện mới. Tuy nhiên làm thế nào để thu, ai thu và thu thế nào thì lại cần một cơ chế rõ ràng, minh bạch để chính sách thực sự đi vào cuộc sống. "Tiền bản quyền không đơn thuần là câu chuyện kinh tế mà còn là sự ghi nhận đối với lao động sáng tạo. Muốn có thêm nhiều tác phẩm nghệ thuật chất lượng, người sáng tạo phải được bảo vệ bằng cơ chế thực thi hiệu quả. Đây cũng là một trong những điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển công nghiệp văn hóa, đưa kinh tế sáng tạo trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng trong những năm tới. Vì thế cần đẩy mạnh truyền thông mạnh mẽ và cơ chế thực thi rõ ràng để người dân, chủ các cơ sở kinh doanh hiểu đúng và thực hiện đúng quy định này", ông Hải nhấn mạnh.
Thực tế cho thấy, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở bản thân quy định pháp luật mà ở khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Theo luật sư Nguyễn Thị Thùy, điều người dân cần lúc này không phải là những quy định được diễn giải bằng thuật ngữ pháp lý phức tạp, mà là một bộ hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu và dễ tra cứu. Cơ quan quản lý cùng các tổ chức đại diện quyền tác giả cần công khai quy trình thực hiện, ai là đơn vị được phép thu, phạm vi đại diện đến đâu, cách xác định tác phẩm thuộc diện quản lý, phương thức thanh toán, mức phí áp dụng cho từng loại hình kinh doanh và cơ chế giải quyết khi có tranh chấp. Minh bạch hóa toàn bộ quy trình không chỉ tạo thuận lợi cho người sử dụng mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của tác giả.
Theo Nghị định 134/2026/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 17/2023/ NĐ-CP), điều 33 quy định công thức tính tiền bản quyền hằng năm đối với cơ sở kinh doanh sử dụng âm nhạc: Tiền bản quyền/ năm = Mức lương cơ sở x Hệ số điều chỉnh.
Từ 1/7/2026, mức lương cơ sở theo Nghị định 161/2026/ NĐ-CP là 2.530.000 đồng/ tháng. Hệ số điều chỉnh được xác định theo diện tích sử dụng của quán, gồm 3 mức: Diện tích 15m²: hệ số 0,35/ 15m²/ năm. Từ trên 15m² đến 50m²: Mỗi m² tăng thêm tính 0,04/m²/năm. Trên 50m²: mỗi m² tăng thêm tính 0,02/ m²/ năm. Mức trần tối đa là 8 lần mức lương cơ sở/ năm.
Ngoài ra, số tiền bản quyền còn được điều chỉnh theo phân loại đô thị, Hải Phòng là đô thị loại I áp dụng 80% khung giá quy định.