Góc nhìn

Nhận diện khoảng trống, khơi thông nguồn lực văn hóa

CẨM GIANG 18/07/2026 14:00

Đánh giá về tình hình thực hiện Nghị quyết số 80, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra 'bốn khoảng trống' lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục.

doc-bia.jpg
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Trong ảnh: Bác Hồ đọc bia Côn Sơn Tư Phúc Tự Bi ở chùa Côn Sơn (năm 1965).

Ngày 7/1/2026, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành. Trong quá trình triển khai cho thấy khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế còn một khoảng cách lớn.

Tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra “bốn khoảng trống” lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục.

Đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số.

Khoảng trống thứ hai là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; di sản văn hóa phi vật thể đồ sộ nhưng phần lớn vẫn chưa được số hóa.

Năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ để biến văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế của quốc gia.

Khoảng trống thứ tư là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa thiếu đồng bộ.

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa cũng được Đại hội XIV đặt ra với tư duy mới, nội dung toàn diện. Điều này cho thấy, văn hóa luôn được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển bền vững.

bieu-dien-van-nghe.jpg
Hải Phòng đã có nhiều nỗ lực để khai thác tiềm năng trong các lĩnh vực du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, và truyền thông sáng tạo.

Không nằm ngoài dòng chảy chung ấy, thành phố Hải Phòng đã tập trung phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa nhằm khai thác giá trị kinh tế của văn hóa, để trở thành một trong những nguồn lực cho sự phát triển đất nước và thành phố. Thành phố đã có nhiều nỗ lực để khai thác tiềm năng này, đặc biệt là trong các lĩnh vực du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và truyền thông sáng tạo.

Tuy vậy, công nghiệp văn hóa của Hải Phòng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, chủ yếu vẫn được nhìn nhận là hoạt động văn nghệ, sự kiện lễ hội, chưa được xem như một ngành kinh tế thực thụ có thể tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc lồng ghép phát triển công nghiệp văn hóa vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, đô thị… còn rời rạc, chưa tạo được hệ sinh thái văn hóa sáng tạo tích hợp.

Sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa của Hải Phòng chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số. Nhiều dữ liệu về di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; di sản văn hóa phi vật thể của Hải Phòng chưa được số hóa...

Nghị quyết 80-NQ/TW đã khẳng định, việc mở rộng hội nhập quốc tế về văn hóa sẽ góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, sức mạnh mềm của quốc gia. Hơn lúc nào hết Hải Phòng cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng thương hiệu văn hóa trên không gian số; nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa riêng có của Hải Phòng. Tiếp tục xác định không gian số không chỉ là nơi đưa các giá trị văn hóa lên môi trường mới mà phải trở thành không gian để văn hóa hiện diện, được nhận biết, được yêu thích và có khả năng lan tỏa...

Chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới. Chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số.

Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Có như vậy văn hóa mới trở thành một trong những nguồn lực cho sự phát triển đất nước và thành phố.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng, tính đi trước của văn hóa, coi đây là ngọn lửa soi đường, dẫn lối cho dân tộc đi đến thắng lợi. Người nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Đến nay, tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.

CẨM GIANG