Khoa học, công nghệ tạo đột phá cho tăng trưởng kinh tế
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành động lực của mô hình phát triển mới, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bứt phá.

Khoa học, công nghệ trở thành động lực tăng trưởng
Hội nghị Trung ương 3 đã thông qua Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, mở ra định hướng tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo các chuyên gia kinh tế, đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam tạo bước nhảy vọt về năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững.
Theo Tiến sĩ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), trong thời gian dài, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào các lợi thế về chi phí đầu vào như lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, những lợi thế này đang dần suy giảm trước sự phát triển mạnh mẽ của tự động hóa và robot, với khả năng làm việc liên tục cùng năng suất vượt trội.
Ông cho rằng để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển dựa trên khoa học, công nghệ. Đây là con đường để nền kinh tế bứt phá, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và tham gia vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.
Mặc dù yêu cầu chuyển đổi ngày càng cấp thiết, Tiến sĩ Lê Xuân Sang cho rằng việc triển khai mô hình phát triển mới vẫn gặp nhiều rào cản. Trong đó, cơ chế giải ngân còn bất cập, thủ tục hành chính kéo dài khiến các nhà khoa học gặp khó khăn khi triển khai các dự án nghiên cứu. Bên cạnh đó, mức đầu tư cho khoa học và công nghệ còn khiêm tốn khi chưa đạt mốc 2% GDP.
Theo Tiến sĩ Lê Xuân Sang, một thách thức khác là tư duy quản lý và nhận thức về đổi mới sáng tạo trong xã hội cũng như cộng đồng doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước, tư duy "bảo toàn vốn", coi đầu tư công nghệ phải tuyệt đối an toàn và không được phép thất thoát, đang đi ngược với bản chất của hoạt động đầu tư mạo hiểm và đổi mới sáng tạo, từ đó làm giảm động lực nghiên cứu và sáng tạo.
Để khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu, Tiến sĩ Lê Xuân Sang cho rằng cần triển khai hiệu quả các chủ trương lớn như Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Trọng tâm là nhanh chóng khơi thông cơ chế tài chính, đơn giản hóa thủ tục giải ngân đối với các dự án khoa học, công nghệ, đồng thời chuyển từ tư duy "kiểm soát chi phí" sang "kiến tạo phát triển", chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thử nghiệm.
Bên cạnh đó, cần tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ một cách nhất quán, đồng thời khơi thông các kênh huy động vốn từ thị trường. Theo ông, thị trường chứng khoán cần phát huy tốt hơn vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp công nghệ thay vì còn khá mờ nhạt như hiện nay.
Tiến sĩ Lê Xuân Sang cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện thông qua việc xây dựng các vườn ươm công nghệ, quỹ đầu tư khởi nghiệp và hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
"Chỉ khi thực sự chuyển mạnh từ tư duy 'quản lý' sang 'kiến tạo phát triển', Việt Nam mới có thể giải phóng hoàn toàn các nguồn lực, đưa khoa học công nghệ trở thành đòn bẩy giúp nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới", Tiến sĩ Lê Xuân Sang khẳng định.

Công nghiệp tàu thủy cần chuyển đổi để tạo đột phá
Đánh giá về vai trò của mô hình phát triển mới đối với công nghiệp tàu thủy, kỹ sư Hoàng Hùng, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), cho rằng nhiều năm qua ngành chủ yếu cạnh tranh bằng chi phí nhân công thấp, gia công theo thiết kế và công nghệ nhập khẩu nên giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.
Theo kỹ sư Hoàng Hùng, định hướng mới của Trung ương đặt ra yêu cầu chuyển từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và tự động hóa trong đóng tàu. Đây là điều kiện để ngành tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thay vì chỉ đảm nhận các đơn hàng ở phân khúc thấp.
Ông cho rằng đây cũng là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế biển, bao gồm vận tải biển, dịch vụ hàng hải, khai thác dầu khí và năng lượng tái tạo ngoài khơi, bởi các lĩnh vực này đều cần năng lực đóng mới, sửa chữa và bảo dưỡng tàu, công trình biển ngay trong nước.
Từ thực tiễn của ngành, kỹ sư Hoàng Hùng chỉ ra ba nhóm hạn chế lớn cần được tháo gỡ.
Về công nghệ, phần lớn nhà máy đóng tàu trong nước vẫn phụ thuộc vào thiết kế, máy chính, thiết bị hàng hải và hệ thống điều khiển nhập khẩu. Năng lực tự thiết kế các dòng tàu có giá trị cao như tàu chở khí hóa lỏng, tàu container cỡ lớn, tàu dịch vụ dầu khí hay tàu phục vụ năng lượng tái tạo ngoài khơi còn hạn chế. Công nghệ hàn, cắt, lắp ráp tại nhiều nhà máy vẫn ở mức trung bình và chưa ứng dụng rộng rãi tự động hóa cũng như mô phỏng số trong thiết kế, quản lý sản xuất.
Về nguồn nhân lực, đội ngũ kỹ sư thiết kế tàu thủy, thợ hàn bậc cao và chuyên gia giám sát chất lượng đang thiếu hụt, trong khi lực lượng hiện có có xu hướng già hóa. Các cơ sở đào tạo chuyên ngành ngày càng khó tuyển sinh và việc cập nhật chương trình theo tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) và các tổ chức đăng kiểm nước ngoài còn chậm.
Đối với năng lực công nghiệp, công nghiệp phụ trợ trong nước phát triển chưa đồng bộ, tỷ lệ nội địa hóa thấp khiến giá thành sản phẩm khó cạnh tranh. Sau quá trình tái cơ cấu, nhiều cơ sở đóng tàu vẫn thiếu nguồn lực để đầu tư đổi mới thiết bị và mở rộng hạ tầng phục vụ đóng các tàu trọng tải lớn.
Để công nghiệp tàu thủy trở thành động lực của mô hình phát triển mới, kỹ sư Hoàng Hùng đề xuất cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, về khoa học, công nghệ cần có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ chuyển giao công nghệ thiết kế và đóng các loại tàu công nghệ cao, tàu sử dụng nhiên liệu sạch như LNG, methanol và hybrid; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư số hóa quy trình thiết kế, sản xuất và tự động hóa dây chuyền.
Về phát triển doanh nghiệp, cần có chính sách tín dụng ưu đãi, bảo lãnh vốn để doanh nghiệp đầu tư nâng cấp hạ tầng, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ trong nước nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, đồng thời tăng cường liên kết với các tập đoàn hàng hải quốc tế để tiếp cận đơn hàng và công nghệ mới.
Đối với đào tạo nguồn nhân lực, kỹ sư Hoàng Hùng cho rằng cần đổi mới chương trình đào tạo kỹ sư và công nhân kỹ thuật theo chuẩn quốc tế, có chính sách thu hút sinh viên theo học ngành đóng tàu, đồng thời đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường, hội nghề nghiệp và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo thực hành.
Trước yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế biển bền vững, kỹ sư Hoàng Hùng nhấn mạnh ngành công nghiệp tàu thủy cần đồng thời chuẩn bị về công nghệ, nhân lực, tổ chức sản xuất và chiến lược thị trường.
Theo ông, ngành cần sớm làm chủ công nghệ đóng tàu sử dụng nhiên liệu thay thế, thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng các quy định ngày càng chặt chẽ của Tổ chức Hàng hải quốc tế về giảm phát thải. Song song với đó là từng bước số hóa toàn bộ chuỗi thiết kế, sản xuất và quản lý chất lượng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tối ưu hóa thiết kế và bảo trì dự đoán để nâng cao năng suất, rút ngắn thời gian đóng tàu.
Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ kỹ sư và công nhân có khả năng làm chủ công nghệ mới, kỹ sư Hoàng Hùng cũng đề xuất tái cơ cấu các cơ sở đóng tàu theo hướng chuyên môn hóa, phát huy thế mạnh riêng của từng nhà máy và gắn phát triển công nghiệp tàu thủy với nhu cầu phát triển đội tàu vận tải biển, dịch vụ dầu khí và năng lượng tái tạo ngoài khơi trong nước, tạo nền tảng vững chắc trước khi mở rộng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.