Xây dựng Đảng

Thành phố Cảng mùa Thu năm ấy

TS. NGUYỄN QUANG THẮNG 19/08/2026 19:00

Mỗi lần về thành phố Cảng, trong tôi lại ùa về hồi ức của những năm tháng cha tôi hoạt động ở đây - đặc biệt là chuyến đi cuối cùng, trước khi ông từ biệt cõi đời.

Đò Sơn 1970 - Sau chiến dịch. Ông Lê Quang Đạo và phu nhân - Nhà văn Nguyệt Tú
Ông Lê Quang Đạo và phu nhân - nhà văn Nguyệt Tú (ảnh tư liệu của gia đình).

Đầu tháng 10/1945, trên chuyến tàu Hà Nội - Hải Phòng, một thanh niên tuổi đôi mươi, nhỏ nhắn, thư sinh với cặp kính trắng, lặng nhìn cảnh vật lướt qua. Đó là cha tôi - Lê Quang Đạo, vừa được Bác Hồ giao trọng trách Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tâm trí ông đang ẩn hiện hình bóng hai đồng chí cùng họ Vũ từng hoạt động chung với ông ở Hà Nội. Một người, ông không bao giờ còn được gặp lại. Người kia, ông sẽ gặp ngay khi vừa đến thành phố.

Mùa Thu năm 1943, phong trào ở Hải Phòng bị đàn áp dữ dội, tổ chức Việt Minh bị vỡ. Ông Vũ Quý - lãnh đạo chủ chốt của Hải Phòng - Kiến An, bị lộ, nhưng kịp thoát lên Hà Nội. Cũng như vậy, những năm 1940 - 1943, Đảng bộ Hà Nội tám lần bị triệt phá, người bị bắt, người phải lánh đi. Tháng 4/1943, đang là Bí thư Tỉnh ủy Phúc Yên, cha tôi được Xứ ủy điều về làm Bí thư Thành ủy Hà Nội để gây dựng lại cơ sở Đảng, và lập ra Hội Văn hóa Cứu quốc, tập hợp các nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng…, có ông Vũ Quốc Uy là Thư ký phủ Toàn quyền. Nhà văn Nguyễn Đình Thi bắt nối liên lạc để ông Vũ Quý gặp cha tôi và ở lại hoạt động tại Hà Nội.

chien-dich-duong-9-khe-sanh-1968-chinh-uy-le-quang-dao-va-thu-ky-khoi-tay-phai-.-bao-ve-hoa-tay-trai-.jpg
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh 1968, Chính ủy Lê Quang Đạo và thư ký Khôi (tay phải), bảo vệ Hóa (tay trái) (ảnh tư liệu của gia đình).

Đến cuối năm 1944, phong trào ở Hà Nội tưởng như đã tan vỡ lại hồi phục. Địch truy lùng "Đốc lý Đỏ", biệt danh chúng đặt cho cha tôi. Ông Vũ Quốc Uy bị bắt. Dù không moi được tin gì, mật thám vẫn rình phục, quyết bắt cha tôi tại căn nhà ở phố Phó Đức Chính, nơi hai người thường hẹn gặp. Nhờ nhanh nhạy và có phần may mắn, lần đó cha kịp chạy thoát, dù đã đối mặt với mật thám ngay trong căn nhà.

Vì đã bị lộ mặt, và cũng để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, cha tôi đi nhận nhiệm vụ Chính trị viên Trường Quân chính kháng Nhật ở chiến khu. Lúc này, phong trào ở Hà Nội đã không ngừng mở rộng, sẵn sàng cho Tổng khởi nghĩa. Ông Vũ Quý muốn nhạc sĩ Văn Cao có bài hát về đoàn quân cách mạng, vào lúc Trường quân chính kháng Nhật chuẩn bị thành lập. Nhạc sĩ Văn Cao khi còn sống nhớ lại: ông Vũ Quý rất hài lòng khi bài hát được viết xong, mắt ông mở to say sưa nghe nhịp nhạc quân hành, nụ cười sáng lên trên khuôn mặt sạm đen. Bài "Tiến quân ca" - Quốc ca nước Việt Nam độc lập sau này - đã ra đời như vậy.

Đầu năm 1945, cha tôi bàn giao nhiệm vụ quyền Bí thư Thành ủy cho ông Vũ Quý. Tháng 6/1945, ngay trước thềm Cách mạng Tháng Tám, ông Vũ Quý không may hy sinh. Với ông Vũ Quốc Uy, địch không tìm ra chứng cứ, buộc phải thả ông ra khỏi tù, đưa về quản thúc tại quê Nam Định. Đầu năm 1945, ông thoát ra, được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về hoạt động ở Hải Phòng.

Bắc Giang giành được chính quyền ngày 18/8/1945 nhưng tình hình vẫn rất căng thẳng, lực lượng lớn quân Nhật còn đóng tại thị xã Phủ Lạng Thương. Để biểu dương lực lượng, chiều ngày 21/8/1945, Tỉnh ủy tổ chức cuộc mít tinh và diễu hành khổng lồ tại sân vận động thị xã. Cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ tràn ngập, khẩu hiệu hô vang động thị xã. Cha tôi - Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân Bắc Giang đứng trên lễ đài, trong buổi diễu binh của Chi đội giải phóng quân và đội tự vệ. Vũ khí tuy thô sơ - súng kíp, mã tấu, giáo mác, và một số súng trường - nhưng bước đi hiên ngang, quyết tử của đoàn chiến sĩ mang khí thế áp đảo kẻ thù.

Sáng ngày 23/8/1945 diễn ra cuộc mít tinh khổng lồ với hơn một vạn người tại Quảng trường Nhà hát thành phố Hải Phòng. Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời, do Ông Vũ Quốc Uy làm Chủ tịch, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ. Sang tháng, hàng vạn quân Tưởng tràn vào Hải Phòng. Nhà máy lớn đóng cửa vì thiếu nguyên vật liệu và nhiên liệu, đẩy hàng vạn công nhân thất nghiệp. Cảng biển bị đình đốn, đứt chuỗi cung ứng hàng hóa.

Khi cha tôi về, lãnh đạo Thành ủy đã không hoạt động từ những năm trước. Giữa tháng 10/1945, Thành ủy được lập lại với 10 ủy viên trên tổng số 100 đảng viên của thành phố. Cha tôi là Bí thư và Chủ nhiệm Thành bộ Việt Minh (bí danh Trần Hoạt), ông Vũ Quốc Uy phụ trách chính quyền, tất cả dưới 30 tuổi. Cha từng viết trong hồi ức của mình: “Tuy chúng tôi còn trẻ thật nhưng hầu hết đã từng ở tù, được thử thách và rèn luyện trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù”.

Đều đặn cuối tuần, chủ nhiệm Thành bộ Việt Minh Trần Hoạt có cuộc nói chuyện tại Nhà hát thành phố. Kể lại với tôi, cha vẫn nhớ: “Hồi đó, tuổi trẻ hăng hái và say sưa, bố mạnh bạo nói về nhiều chủ đề. Đông kín quần chúng đến dự và hào hứng đón nghe, hoan hô không dứt”.

Ngay khi thành lập lại, Thành ủy phát động "Tuần lễ vàng" và "Quỹ độc lập". Người dân nhiệt thành quyên góp cho ngân khố quốc gia. Các "Hũ gạo cứu đói" được đặt khắp các khu phố. Các lớp Bình dân học vụ ban đêm thắp sáng tại nhà máy, xóm thợ.

Đầu tháng 11/1945, Chi đội 1, đoàn quân Nam tiến đợt đầu, gồm 2 đại đội, có 3 người con trai ông Hoàng Tâm Tích, làm lễ xuất quân. Sau đó, hai vị Thượng tọa đại diện hai trung đội Tăng già Cứu quốc chùa Bạch Mã và Phương Mỹ xin "tạm cởi áo cà sa", vào Giải phóng quân và đi Nam tiến.

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I là trận đấu tranh căng thẳng giữa quần chúng dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và chính quyền với bọn phản động tìm mọi cách chống phá. Tại nhiều điểm bầu, dân chúng xếp thành bức tường người bảo vệ, di chuyển an toàn thùng phiếu. Cuộc bầu cử thành công vang dội, tỷ lệ đi bầu tại Hải Phòng đạt 96%, so với cả nước là 89%.

Sau bầu cử Quốc hội, chính quyền đã vững chắc về pháp lý, Hải Phòng tập trung khôi phục kinh tế và chuẩn bị thế trận phòng thủ. Thành ủy chỉ đạo nghiệp đoàn tiếp quản, khôi phục hoạt động Cảng, Nhà máy Xi măng, Nhà máy Tơ…, nối lại đường biển và đường sắt để cung ứng hàng hóa, ổn định việc làm và đời sống.

Đầu tháng 5/1946, cha tôi lại về làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, chuẩn bị cho kháng chiến toàn quốc. Gần 15 năm sau, khi có mặt tại Đồ Sơn, ông thốt lên: “Biển rộng quá, mênh mông quá”, khi lần đầu nhìn thấy biển.

50 năm sau, tháng 6/1999, cha tôi dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc thành phố Hải Phòng. Sau bài phát biểu, dù trời nóng oi bức, ông nhất định đến nghĩa trang liệt sĩ thành phố thắp hương. Trên đường về, ô tô đưa cha tôi vào thẳng bệnh viện cấp cứu. Chuyến đi và bài nói tại Hải Phòng là nốt cuối của bản nhạc cuộc đời ông.

Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo
Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo (ảnh tư liệu của gia đình).

Bà con quê nhà, đồng chí, đồng đội, người cùng thời từng quen biết, công tác với cha tôi đều có chung một cảm nhận: cha tôi là người thấu hiểu tâm lý mọi người, khéo đối nhân xử thế. Ông nhân hậu, lạc quan, luôn vui vẻ, hóm hỉnh rất duyên, dễ gần – đó cũng là điểm nổi bật, nét đặc sắc của văn hóa và con người Kinh Bắc. Ông dung hòa giữa cởi mở, hòa đồng với tính nguyên tắc rất nghiêm, không qua loa, lẫn lộn. Trên hết, ông trong sáng, luôn nhận rõ đúng sai và không bao giờ đánh mất sự trung thực. Đó là điều quý báu nhất trong số rất nhiều đức tính tốt đẹp của cha mà chúng tôi cần học theo!

TS. NGUYỄN QUANG THẮNG