Hoàn thiện quy định quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Thông tư quy định về Danh mục, chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
.jpg)
Dự thảo này quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản, Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 về quản lý loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, đồng thời ban hành Danh mục bảng mã HS đối với hàng hoá là loài thuộc Phụ lục CITES.
Theo dự thảo, mọi hoạt động khai thác, nuôi, trồng, chế biến, kinh doanh, vận chuyển, lưu giữ, quảng cáo, trưng bày, trao đổi, tặng cho, xuất khẩu, nhập khẩu mẫu vật đều phải bảo đảm nguồn gốc hợp pháp và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại, phát triển của loài trong tự nhiên.
Các hoạt động điều tra, nghiên cứu, du lịch có nguy cơ tác động đến nơi sinh sống, đường di chuyển, nơi kiếm ăn của loài phải áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro theo quy định. Đặc biệt, dự thảo nghiêm cấm sử dụng các công cụ, phương tiện mang tính tận diệt như vũ khí, tên tẩm thuốc độc, chất nổ, chất độc, đào hầm hố, cắm chông, bẫy kiềng lớn, bẫy gài lao, bẫy điện, bẫy sập, bẫy lưới, bẫy lồng, bẫy keo, ná cao su, khúc gỗ lớn, răng sắt lớn hoặc thiết bị phát tiếng kêu để khai thác mẫu vật tự nhiên, ngoại trừ các trường hợp phục vụ nghiên cứu khoa học, đối ngoại và bảo tồn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với công tác bảo tồn, dự thảo quy định các cá thể loài nguy cấp, quý, hiếm được cứu hộ nhưng không đủ điều kiện thả, trồng lại tự nhiên hoặc không còn môi trường sống phù hợp phải được chuyển giao cho cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học hoặc cơ sở cứu hộ có đủ điều kiện phục vụ mục đích bảo tồn.
Hoạt động nuôi sinh sản và xuất khẩu thương mại đối với loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ chỉ được phép thực hiện đối với cá thể từ thế hệ F2 trở đi, sau khi được Cơ quan khoa học CITES Việt Nam xác định khả năng sinh sản qua nhiều thế hệ trong môi trường có kiểm soát mà không ảnh hưởng đến quần thể tự nhiên.
Về biện pháp thực hiện, loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm I sinh sống tự nhiên được bảo tồn tại chỗ thông qua việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên hoặc áp dụng cơ chế bảo vệ nơi sinh sống, di trú ở khu vực chưa thành lập khu bảo tồn. Các biện pháp bảo tồn chuyển chỗ được triển khai qua hoạt động cứu hộ, nuôi trồng nhân tạo, lưu giữ nguồn gen, thả lại hoặc chuyển vị bảo tồn để phục hồi quần thể.
Dự thảo cũng phân định thứ tự ưu tiên áp dụng chế độ quản lý từ cao xuống thấp, đứng đầu là loài được ưu tiên bảo vệ, loài nhóm I và phụ lục I CITES, tiếp theo là loài nhóm II và phụ lục II, III CITES, trong đó trường hợp loài trùng lặp giữa danh mục quốc gia và phụ lục CITES sẽ áp dụng quy định quản lý nghiêm ngặt hơn trong hai hệ thống.
Về phương án xử lý trường hợp động vật nguy cấp, quý, hiếm đe dọa hoặc xâm hại tính mạng, tài sản của con người, dự thảo đưa ra nguyên tắc bắt buộc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải chủ động áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xua đuổi, hạn chế tối đa việc gây tổn thương cho động vật, đồng thời báo cáo ngay cho Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc UBND cấp xã gần nhất.
Trong trường hợp động vật trực tiếp tấn công con người ở khu vực ngoài rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, sau khi đã áp dụng các biện pháp xua đuổi nhưng không mang lại hiệu quả, UBND cấp xã sẽ quyết định và trực tiếp chỉ đạo tổ chức việc bắt giữ động vật đó.
Đối với trường hợp động vật tấn công gây nguy hiểm cấp bách đến tính mạng con người mà không còn khả năng ngăn chặn, xua đuổi hay bắt giữ, người dân được phép áp dụng biện pháp phòng vệ cần thiết và phải kịp thời báo cáo sự việc tới cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương.