Việc tử tế

Tăng trợ cấp hưu trí xã hội lên 540.000 đồng mỗi tháng từ ngày 5/10

PV 23/08/2026 08:30

Theo quy định mới của Chính phủ, trợ cấp hưu trí xã hội và mức chuẩn trợ giúp xã hội cùng tăng lên 540.000 đồng/tháng.

chitraluonghuu220523.jpg
Chi trả lương hưu cho người hưởng.

Chính phủ đã ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trong đó quy định tăng mức trợ cấp hưu trí xã hội lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 5/10/2026.

Cụ thể, Điều 31 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 3 Nghị định 176/2025/NĐ-CP, quy định đối tượng thuộc diện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được hưởng mức 540.000 đồng/tháng.

Trường hợp đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đồng thời thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng thì được hưởng chế độ trợ cấp cao hơn.

Như vậy, từ ngày 5/10/2026, mức trợ cấp hưu trí xã hội được tăng lên 540.000 đồng/tháng.

Bên cạnh đó, theo Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng từ 500.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội; mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác; cùng các mức trợ giúp xã hội khác.

Đối tượng hỗ trợ bao gồm trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp: bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được; có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội...

Người dưới 16 tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng khi đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất, nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục, thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

Các đối tượng còn có trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi.

Đối với người cao tuổi, đối tượng hỗ trợ gồm người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng cũng thuộc diện hỗ trợ.

Ngoài ra, đối tượng hỗ trợ còn gồm người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 6, đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn cũng thuộc diện hưởng chính sách.

Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng cũng thuộc nhóm đối tượng được hỗ trợ.

Mức trợ cấp xã hội hằng tháng được tính bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng từ 1,0 - 3,0 tùy từng đối tượng cụ thể.

PV