Di sản văn hóa từ những trang y thư cổ
Hơn 6 thế kỷ trôi qua, các bài thuốc của Thiền sư Tuệ Tĩnh vẫn vẹn nguyên giá trị, trở thành di sản văn hóa khẳng định tư tưởng tự chủ của nền y học dân tộc.

Những trang y thư cổ
Trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam, Tuệ Tĩnh là một nhân vật đặc biệt. Tên thật của ông là Nguyễn Bá Tĩnh, sinh năm 1330 tại làng Nghĩa Phú, nay thuộc xã Tuệ Tĩnh (Hải Phòng). Ông sớm được nhà chùa nuôi dưỡng, học hành, xuất gia và lấy pháp danh Tuệ Tĩnh. Sau khi đỗ Thái học sinh, thay vì bước vào con đường quan trường, ông trở về chuyên tâm nghiên cứu y dược, chữa bệnh cứu người.
Thiền sư Tuệ Tĩnh đã thu thập các bài thuốc dân gian, nghiên cứu cây thuốc và tổng hợp thành những công trình y học có giá trị.
“Nam dược thần hiệu” là công trình tiêu biểu nhất cho tư tưởng xây dựng một nền y học dựa trên nguồn dược liệu bản địa. Tác phẩm được Đại danh y Tuệ Tĩnh biên soạn bằng chữ Hán, gồm 11 tập, mô tả dược tính của khoảng 580 vị thuốc Nam và gần 4.000 phương thuốc.
Tác phẩm đã nêu hàng trăm bài thuốc, tổ chức theo các nhóm bệnh và tạng phủ; trong đó chú trọng các phương pháp chẩn đoán, điều trị bằng cây thuốc Nam. Những vị thuốc quen thuộc như ích mẫu, xuyên tâm liên, ké đầu ngựa, lá lốt, cúc tần, gừng, nghệ... cho thấy tri thức y học trong sách gắn chặt với đời sống của người Việt.
Còn tác phẩm “Hồng nghĩa giác tư y thư” được viết bằng chữ Nôm kết hợp chữ Hán, trong đó có những bài thơ, câu văn vần giúp người dân dễ nhớ, dễ học. Tác phẩm có khoảng 2.119 câu thơ Nôm lục bát, cùng phần chữ Hán giải thích y lý, dược tính. Tác phẩm gồm hai quyển, với các phương thuốc gia giảm và phương trị bệnh thương hàn. Chính việc sử dụng chữ Nôm và thể thơ dễ thuộc đã đưa kiến thức y học đến gần hơn với cộng đồng.
Theo Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Hằng, nguyên phó giám đốc Bệnh viện Tuệ Tĩnh (Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam), điểm đặc biệt trong di sản Tuệ Tĩnh là ông đã làm cho tri thức chữa bệnh dân gian được hệ thống hóa thành một hệ thống có lý luận, đồng thời vẫn giữ được tính gần gũi với đời sống. Vì vậy, nghiên cứu y thư của ông không chỉ giúp hiểu lịch sử y học mà còn giúp nhận diện một bộ phận tri thức bản địa của người Việt…
Nguồn lực văn hóa của Hải Phòng

Giá trị lớn nhất trong di sản Tuệ Tĩnh có lẽ nằm ở tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân”. Theo đánh giá của Bộ Y tế, Tuệ Tĩnh không chỉ tổng hợp kinh nghiệm sử dụng thuốc Nam mà còn xây dựng những quan điểm về y học dân tộc có giá trị lâu dài.
Trong “Nam dược thần hiệu”, ông chú ý tới nguyên nhân, bệnh lý, chứng trạng phù hợp với điều kiện Việt Nam, xây dựng cách chẩn trị, chữa bệnh có tính thực tiễn, dễ áp dụng; đồng thời kết hợp thuốc với ăn uống và các phương pháp như xoa bóp, chườm, châm cứu.
Y học cổ truyền không chỉ được nhìn nhận như một phần của lịch sử y khoa mà còn là một thành tố của di sản văn hóa. Những bài thuốc, cây thuốc, kinh nghiệm chữa bệnh, phương pháp dưỡng sinh được lưu truyền qua nhiều thế hệ chính là một bộ phận của kho tàng tri thức dân gian.
Tài liệu về Tuệ Tĩnh cho thấy ông không dừng ở việc chữa bệnh mà còn quan tâm phòng bệnh, vệ sinh, rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông từng tổ chức các cơ sở chữa bệnh tại chùa, truyền bá phương pháp chăm sóc sức khỏe và xây dựng mạng lưới chữa bệnh cho người dân. Vì vậy, di sản của ông có thể được nhìn nhận từ cả ba phương diện: tri thức y học, văn hóa dân gian và đạo lý nhân văn.
Tại quê hương hiện có cụm di tích thờ Tuệ Tĩnh ở Đền Xưa - Chùa Giám - Đền Bia là không gian tiêu biểu gắn với quê hương, quá trình tu hành và di sản của ông. Ngoài ra, Đại danh y, thiền sư Tuệ Tĩnh còn được tôn làm Thành hoàng ở đền Yên Lư (phường Thủy Nguyên)…
Đây là cơ sở quan trọng để Hải Phòng phát triển một hướng đi mới là kết nối di sản y học với bảo tồn văn hóa và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Ngoài những di sản có giá trị y học, di sản văn hóa là những nơi thờ tự, thì trong cuộc sống hiện đại, những bài thuốc nam của Đại danh y Tuệ Tĩnh vẫn đang hiện hữu.
Có thể thấy, Hải Phòng không chỉ là quê hương của Tuệ Tĩnh mà còn sở hữu hệ thống di tích, cảnh quan, nguồn tài nguyên cây thuốc và mạng lưới cơ sở y học cổ truyền. Nếu được kết nối, những yếu tố này có thể tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng về lịch sử y học Việt Nam.