Đời sống văn hóa

Để di sản sống cùng cộng đồng trong không gian sáng tạo mới

TT (tổng hợp) 31/08/2026 11:49

Di sản chỉ thực sự tiếp tục sống khi cộng đồng giữ vai trò chủ thể, được tham gia sáng tạo, quyết định cách sử dụng và hưởng lợi từ những giá trị mới được tạo ra.

Trình diễn 3D Mapping với chủ đề “Sóng Bạch Đằng – Hào khí Ngô Quyền”
Trình diễn 3D Mapping với chủ đề “Sóng Bạch Đằng – Hào khí Ngô Quyền” tại đình Kênh (Hải Phòng).

Từ khai thác di sản đến đồng sáng tạo

Di sản văn hóa phi vật thể không phải những giá trị “ngủ yên” trong hồ sơ, hiện vật hay bản ghi được lưu giữ trong kho dữ liệu. Di sản tồn tại trong bàn tay của nghệ nhân, trong tiếng nhạc, nghi lễ, kỹ năng nghề, ký ức cộng đồng và cách mỗi thế hệ tiếp tục tiếp nhận, diễn giải những gì được trao lại.

Khi bước vào một không gian mới, nơi công nghệ có thể đưa một biểu đạt văn hóa đến hàng triệu người, thị trường có thể biến tri thức truyền thống thành sản phẩm, còn du lịch có thể đưa cộng đồng và du khách đến gần nhau hơn, di sản đứng trước những cơ hội phát triển mới. Nhưng cùng với đó là câu hỏi làm thế nào để di sản thay đổi mà không đánh mất chính cộng đồng đã tạo nên nó.

Theo các chuyên gia, thay vì chỉ đặt câu hỏi “làm gì để khai thác di sản”, vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để cộng đồng trở thành chủ thể của quá trình tạo ra giá trị mới từ di sản.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng di sản văn hóa phi vật thể là một hệ thống sống động, không ngừng biến đổi, bao gồm tri thức, kỹ năng, thực hành, ký ức và các biểu đạt văn hóa. Chính đặc tính này khiến di sản trở thành một nguồn lực quan trọng của sức sáng tạo.

Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa đang mở thêm nhiều con đường để di sản tham gia vào đời sống đương đại. Nghề thủ công có thể kết nối với thiết kế, thời trang; nghệ thuật trình diễn có thể gặp gỡ du lịch, điện ảnh, âm nhạc; công nghệ có thể giúp tư liệu hóa, diễn giải và đưa di sản đến với những nhóm công chúng trước đây khó tiếp cận.

Tuy nhiên, cũng từ đây xuất hiện một nghịch lý. Một món đồ thủ công có thể được đưa ra thị trường như sản phẩm; một điệu múa có thể trở thành nội dung số; một nghi lễ có thể xuất hiện trong chương trình du lịch. Nhưng di sản không chỉ là những gì có thể nhìn thấy, ghi hình hay bán được. Đằng sau mỗi biểu đạt còn là tri thức, ký ức, môi trường thực hành và các mối quan hệ cộng đồng đã tạo nên giá trị của di sản.

Nếu chỉ tách phần có khả năng thương mại hóa khỏi tổng thể đó, di sản rất dễ bị giản lược thành một hình ảnh đẹp, một câu chuyện dễ tiêu thụ hoặc một sản phẩm gắn nhãn văn hóa nhưng mất dần mối liên hệ với cộng đồng nắm giữ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Phương, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Việt Nam, cho rằng cần chuyển từ cách nhìn di sản như một nguồn tài nguyên để khai thác sang coi di sản là nền tảng nuôi dưỡng sáng tạo.

Cùng với đó là yêu cầu bảo hộ tri thức truyền thống, quyền sở hữu cộng đồng, hỗ trợ nghệ nhân, chia sẻ lợi ích công bằng và bảo đảm cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình hoạch định chính sách.

Theo cách tiếp cận này, vấn đề không phải ngăn di sản bước vào thị trường, mà là di sản bước vào thị trường bằng cách nào và cộng đồng giữ vị trí gì trong quá trình đó.

Nếu doanh nghiệp, nhà thiết kế hay các nền tảng số chỉ lấy chất liệu truyền thống để tạo ra sản phẩm mới, cộng đồng có nguy cơ trở thành người đứng ngoài câu chuyện của chính mình. Ngược lại, nếu nghệ nhân và cộng đồng được tham gia từ hình thành ý tưởng, thiết kế, kể chuyện, sản xuất đến phân phối lợi ích, thương mại hóa có thể trở thành một cách để nghề tiếp tục tồn tại, người trẻ có thêm lý do gắn bó với nghề và tri thức được trao truyền.

Đó cũng là khác biệt giữa “khai thác di sản” và “đồng sáng tạo từ di sản”.

Trong khuôn khổ một diễn đàn chuyên ngành vừa diễn ra tại Hà Nội, Giáo sư, Tiến sĩ Eric Babar Zerrudo, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Ủy ban Quốc gia về Văn hóa và Nghệ thuật Philippines, cảnh báo đổi mới thiếu trách nhiệm văn hóa có thể trở thành sự chiếm đoạt, trong khi thương mại hóa thiếu bền vững có thể phá hủy chính di sản tạo nên giá trị ban đầu.

Theo ông, cộng đồng phải có tiếng nói trong việc định nghĩa, đại diện và phát triển di sản, đồng thời được tham gia quyết định cách thức phân chia lợi ích từ các hoạt động văn hóa. Điều đó đồng nghĩa cộng đồng không chỉ mang trách nhiệm bảo tồn mà còn phải có quyền quyết định tương lai của di sản.

INFO HEADER 3x2 (7)
Khách du lịch trải nghiệm viết thư pháp bằng kính thực tế ảo tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Công nghệ mở rộng không gian trao truyền di sản

Không gian số đang tiếp tục làm thay đổi cách con người tiếp cận di sản. Một nghệ nhân có thể trở thành người sáng tạo nội dung; một kỹ thuật thủ công có thể được giới thiệu tới công chúng toàn cầu; một làng nghề có thể chủ động kể câu chuyện của mình thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào cách kể của bên thứ ba.

Tuy nhiên, số hóa bản thân nó chưa đồng nghĩa với bảo tồn. Một kho dữ liệu lớn về di sản sẽ khó giải quyết được bài toán bảo tồn nếu số người thực hành ngày càng ít đi. Một video về nghề truyền thống có thể thu hút hàng triệu lượt xem nhưng không đồng nghĩa người trẻ sẽ muốn học nghề.

Thậm chí, khi tri thức và những biểu đạt văn hóa được đưa lên môi trường số mà thiếu cơ chế bảo vệ, cộng đồng có thể mất quyền kiểm soát đối với chính những giá trị mình tạo dựng.

Bởi vậy, chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản cần được nhìn rộng hơn việc đưa tư liệu lên các nền tảng công nghệ. Câu hỏi quan trọng hơn là công nghệ có giúp cộng đồng tăng năng lực kể chuyện, trao truyền, sáng tạo và hưởng lợi từ di sản hay không.

Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được xác định là động lực của một phương thức phát triển mới, lĩnh vực văn hóa cũng đứng trước cơ hội mở rộng không gian sáng tạo, kết nối công chúng và hình thành những phương thức trao truyền mới.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được đặt trong một hệ sinh thái lấy con người làm trung tâm. Với di sản sống, yêu cầu này càng rõ ràng. Công nghệ có thể lưu giữ một bài hát, ghi lại một kỹ thuật hay tái hiện một nghi lễ nhưng không thể thay thế nghệ nhân và cộng đồng thực hành.

Do đó, chuyển đổi số cần hướng tới tăng năng lực cho những người đang nắm giữ di sản, giúp họ chủ động tham gia vào quá trình tạo ra và phân phối các giá trị mới.

Tinh thần này cũng được thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào không gian phát triển mới của văn hóa, đồng thời nhấn mạnh vai trò của người dân và cộng đồng với tư cách chủ thể của sáng tạo văn hóa.

Cùng với mục tiêu đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng hệ sinh thái sáng tạo và số hóa di sản, cách tiếp cận này mở ra một cấu trúc phát triển mới, trong đó di sản không chỉ được bảo vệ mà còn có thể trở thành nền tảng cho sáng tạo, sinh kế và phát triển.

Từ đó, câu hỏi về chuyển đổi số di sản không nên chỉ dừng lại ở việc đã số hóa được bao nhiêu tư liệu. Những vấn đề cần được đặt ra là ai sở hữu dữ liệu, ai có quyền quyết định cách kể, ai được sử dụng những tri thức đó và cộng đồng nhận lại gì từ các giá trị được tạo ra trên không gian số.

Khi những câu hỏi này trở thành định hướng cho quá trình số hóa, công nghệ có thể trở thành một mắt xích của quá trình trao truyền.

Người trẻ cũng không nhất thiết phải tiếp nhận và thể hiện di sản theo đúng cách thế hệ trước từng làm. Họ có thể kể lại bằng video, thiết kế, âm nhạc, thời trang, trò chơi hoặc những hình thức sáng tạo mới. Điều quan trọng là sự đổi mới vẫn giữ được mối liên hệ với tri thức gốc và cộng đồng nắm giữ di sản.

Khi đó, bảo tồn không còn được hiểu là giữ di sản trong một trạng thái bất biến, mà là duy trì khả năng để di sản tiếp tục được thực hành, trao truyền và sáng tạo.

Cũng từ góc nhìn này, công nghiệp văn hóa không đơn giản là quá trình đưa di sản ra thị trường. Đó cần là quá trình hình thành một chuỗi giá trị mới, trong đó nghệ nhân và cộng đồng được tham gia từ sáng tạo, sản xuất, kể chuyện đến phân phối lợi ích.

Di sản sống vì thế cần một môi trường đủ lành mạnh để thay đổi, một thị trường đủ công bằng để tạo sinh kế và một công nghệ đủ có trách nhiệm để mở rộng khả năng trao truyền.

Quan trọng hơn, cộng đồng phải có đủ năng lực và quyền quyết định cách kể câu chuyện văn hóa của chính mình. Bởi đích đến của bảo tồn di sản sống không phải giữ nguyên hình hài của quá khứ, mà là bảo đảm cộng đồng vẫn có quyền và khả năng tiếp tục viết nên câu chuyện của di sản trong tương lai.

TT (tổng hợp)