Thay đổi tư duy sản xuất để nông sản 'xuất ngoại'
Nhiều thị trường lớn siết quy định SPS, đòi hỏi hợp tác xã, đơn vị cung ứng nông sản và nông dân tăng cường kiểm soát dư lượng, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, thay đổi tư duy sản xuất.

Thay đổi tư duy sản xuất
Là địa phương có truyền thống trồng vải lâu đời, xã Thanh Hà hiện có gần 940 ha trồng vải, trong đó gần 500 ha vải thiều đặc sản. Hơn 10 năm qua, vải thiều Thanh Hà từng bước khẳng định thương hiệu khi xuất khẩu sang nhiều thị trường có yêu cầu cao như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… Đến nay, địa phương đã xây dựng 18 tổ sản xuất vải xuất khẩu với tổng diện tích hơn 250 ha, mỗi tổ có từ 10 - 15 ha. Các tổ sản xuất chú trọng kiểm soát từ vệ sinh vườn, nguồn nước tưới đến phòng trừ sâu bệnh. Toàn bộ quá trình sản xuất được ghi chép đầy đủ, tạo thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao giá trị và uy tín của vải thiều Thanh Hà trên thị trường quốc tế.
Từ một sản phẩm được người tiêu dùng Hải Phòng và nhiều địa phương ưa chuộng, gạo rươi Kiến Quốc đang được đẩy mạnh xuất khẩu. Sau gần 3 năm xây dựng vùng liên kết sản xuất, sản phẩm đã đạt chứng nhận USDA Organic, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Anh Trần Văn Trung, Giám đốc Công ty CP Đầu tư Hải Âu Việt cho biết, trồng lúa trên ruộng rươi có yêu cầu khác với canh tác thông thường. Người dân phải tuân thủ các nguyên tắc sinh thái để bảo vệ môi trường sống của rươi. Từ khâu cải tạo ruộng, hệ thống bờ bao và cống dẫn nước được xây dựng để điều tiết thủy triều. Trong quá trình trồng lúa, nông dân hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thay vào đó áp dụng các biện pháp sinh học như thả cá, tận dụng thiên địch để kiểm soát sâu bệnh. Cỏ dại được xử lý thủ công hoặc bằng các phương pháp thân thiện với môi trường.
Nhờ phương thức canh tác này, hệ sinh thái trong ruộng được duy trì cân bằng, rươi sinh trưởng tốt, cây lúa phát triển tự nhiên, cho hạt gạo chắc, thơm và giàu dưỡng chất.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Hải Phòng. Ngành nông nghiệp không chỉ cần nâng cao năng suất mà còn phải từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, kiểm soát chặt chẽ từ giống, vật tư đầu vào đến thu hoạch, sơ chế và chế biến.

Thúc đẩy liên kết
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng, vụ mùa năm nay, thành phố gieo cấy khoảng 3.500 ha lúa phát thải thấp, tăng hơn 700 ha so với vụ mùa 2025 và 300 ha so với vụ xuân 2026. Diện tích này được triển khai tại nhiều địa phương như Thanh Miện, Hồng Châu, An Quang, An Khánh, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, Việt Khê, Quyết Thắng…
Mô hình lúa phát thải thấp yêu cầu tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật, từ bón phân cân đối, tưới ướt - khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp đến kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, phương thức sản xuất lúa truyền thống với việc duy trì ngập nước liên tục là một trong những nguồn phát thải khí mê-tan lớn. Vì vậy, việc nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp được đánh giá là hướng đi phù hợp, góp phần đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng xanh trong nông nghiệp, đáp ứng xu hướng của thị trường thế giới.
Bên cạnh đó, một số hợp tác xã nông nghiệp đang tổ chức lại sản xuất, tập hợp nông dân cùng thực hiện một quy trình thống nhất. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hợp tác xã nông nghiệp sạch Nam Vũ cho biết, hợp tác xã liên kết với 30 hộ dân xây dựng vùng trồng ổi khoảng 20 ha, đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, bảo đảm an toàn thực phẩm.
Các đơn vị thu mua cũng chú trọng liên kết với vùng nguyên liệu. Bà Cao Thị Hằng, Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Thắng Thủy cho biết, hợp tác xã tập trung bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Mỗi năm, đơn vị ký hợp đồng với các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 1.000 tấn rau, củ, hoa các loại. Bên cạnh mở rộng diện tích và sản lượng, hợp tác xã chú trọng nâng cao chất lượng các sản phẩm chủ lực như bắp cải và trà hoa cúc để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Hợp tác xã hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật, ứng giống, ứng vốn; đồng thời giám sát quy trình sản xuất và phối hợp với cơ quan chuyên môn kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trước khi thu mua phục vụ xuất khẩu.
Trước yêu cầu của thị trường nhập khẩu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và nhu cầu xuất khẩu nông sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu cấp, duy trì 270 mã số vùng trồng, trong đó có 190 mã số phục vụ xuất khẩu. Có 10 cơ sở đóng gói được cấp 38 mã số xuất khẩu, với công suất tối đa khoảng 770 tấn/ngày. Các thị trường đã được cấp mã số gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, EU và Thái Lan. Bên cạnh những mặt hàng chủ lực, các ngành chức năng cần tiếp tục hỗ trợ để đa dạng hóa sản phẩm nông sản Hải Phòng xuất khẩu.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lương Thị Kiểm, thời gian tới, sở tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan liên quan bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thuộc phạm vi quản lý khi tham gia các sự kiện có yếu tố nước ngoài. Sở cũng thường xuyên tham gia các hội nghị giao ban, hoạt động xúc tiến thương mại của Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Công Thương tổ chức.
Sở kịp thời cập nhật, thông tin đến các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn về các dự thảo, quy định mới và biện pháp liên quan đến an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật (SPS) của các thành viên WTO do Văn phòng SPS Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông báo.