Chủ động nguồn nước trước tác động của El Nino
El Nino mạnh có thể gây thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn, đòi hỏi Việt Nam chủ động dự báo, tích trữ và phân bổ nguồn nước.

El Nino gia tăng áp lực lên nguồn nước
El Nino đang ở ngưỡng mạnh và gần như chắc chắn duy trì ở mức mạnh đến rất mạnh trong những tháng cuối năm 2026. Hiện tượng này có thể kéo theo nền nhiệt cao, lượng mưa thiếu hụt, gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước tại nhiều khu vực của Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khoảng 60% lượng nước mặt của Việt Nam có nguồn gốc từ ngoài lãnh thổ. Trong khi đó, nguồn nước phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Những yếu tố này khiến tác động của El Nino và biến đổi khí hậu đối với an ninh nguồn nước trở nên đáng lo ngại.
Theo ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Việt Nam có khoảng 3.450 sông, suối dài từ 10 km trở lên, với tổng lượng dòng chảy hằng năm khoảng 844 tỷ m³, tập trung chủ yếu tại 13 lưu vực sông lớn. Tuy nhiên, nguồn nước giữa các lưu vực có sự chênh lệch lớn. Đáng chú ý, 5/13 lưu vực phụ thuộc vào nguồn nước từ ngoài biên giới.
Từ tháng 5/2026, nguồn nước trên nhiều sông, suối bắt đầu chịu ảnh hưởng của El Nino và có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm. Báo cáo về nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do El Nino 2026-2027 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cảnh báo hiện tượng này có thể gây hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026-2027.
Ông Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, cho rằng thách thức đối với Việt Nam không chỉ nằm ở diễn biến thời tiết mà còn ở đặc điểm phân bố nguồn nước. Nguồn nước giữa các vùng, các mùa không đồng đều, trong khi một phần đáng kể phụ thuộc vào dòng chảy từ bên ngoài lãnh thổ.
Lưu vực sông Hồng có hệ thống hồ chứa tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện chủ động hơn trong điều tiết nguồn nước. Ngược lại, Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc lớn vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong. Trong khi đó, lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 28% tổng lượng mưa năm, khiến nguy cơ thiếu nước gia tăng trong thời kỳ ít mưa.
Yếu tố xuyên biên giới càng làm bài toán trở nên phức tạp. Khi biến đổi khí hậu làm thay đổi chế độ mưa, dòng chảy hoặc gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan ở thượng nguồn, nguồn nước tại Việt Nam có thể chịu tác động nhanh chóng.
Từ các kịch bản biến đổi khí hậu năm 2026, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cảnh báo ba nhóm tác động lớn đối với nguồn nước gồm hạn hán gia tăng, mưa cực đoan và nước biển dâng. Trong đó, hạn hán là rủi ro có thể kéo dài, trực tiếp làm suy giảm khả năng cung cấp nước cho sản xuất và đời sống.
Trước nguy cơ trên, các chuyên gia cho rằng cách tiếp cận trong quản lý nguồn nước cần được thay đổi. Thay vì chờ đến khi thiếu nước mới đưa ra phương án xử lý, các địa phương cần chủ động xây dựng kịch bản, dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn nước từ sớm.
Ông Nguyễn Xuân Hiển nhấn mạnh việc dự báo, cảnh báo và xây dựng phương án phân bổ nguồn nước cần được thực hiện sớm, dựa trên diễn biến thực tế của từng lưu vực. Đây là cơ sở để các ngành, địa phương chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất và sử dụng nước.
Cùng với đó, cần đánh giá lại khả năng chịu tải và tiêu chuẩn thiết kế của hồ chứa, công trình trữ nước, hệ thống tiêu thoát và các hạ tầng liên quan. Các thông số thiết kế cần được cập nhật theo diễn biến khí hậu mới, thay vì chỉ dựa vào chuỗi số liệu khí tượng, thủy văn trong quá khứ.
Theo ông Hiển, quản lý nguồn nước cần được đặt trong một chuỗi liên kết từ dự báo, tích trữ, điều hòa, phân bổ, khai thác đến tiêu thoát và bảo vệ chất lượng nước. Khi các khâu được kết nối, biến động nguồn nước sẽ được nhận diện sớm hơn, giúp phương án ứng phó được chuẩn bị trước.
Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực sử dụng lượng nước lớn và chịu tác động trực tiếp khi xảy ra hạn hán.
PGS, TS Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, khuyến cáo các địa phương rà soát, cân đối nguồn nước theo từng khu vực, hệ thống công trình và từng vụ sản xuất. Đồng thời, cần đánh giá khả năng tích trữ của hồ chứa, ao, đập, kênh mương; xác định sớm những khu vực có nguy cơ thiếu nước cao để xây dựng phương án phân bổ.
Những nơi nguồn nước hạn chế cần tính toán khả năng chuyển đổi hoặc điều chỉnh diện tích sản xuất, tránh mở rộng vượt quá khả năng cung cấp nước. Vùng có nguy cơ thiếu nước cao cần cân nhắc thời vụ, lựa chọn giống và cây trồng có nhu cầu nước phù hợp, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm.
Đối với cây lâu năm như cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, việc chủ động nguồn nước càng quan trọng do đây là những loại cây cần nguồn nước ổn định trong các giai đoạn sinh trưởng. Với cây lúa, cần xác định những thời kỳ quyết định năng suất để ưu tiên nguồn nước.
Tích nước sớm, điều tiết linh hoạt

Đối với hệ thống hồ chứa, yêu cầu đặt ra là phải chủ động tích nước ngay từ mùa lũ để tạo nguồn cho mùa khô. Ông Ngô Mạnh Hà đề nghị tăng cường dự báo, cảnh báo các khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước, nhất là miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.
Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện cần được tích nước sớm để chủ động nguồn nước điều tiết cho mùa khô năm 2027. Việc vận hành hồ chứa và liên hồ chứa cần linh hoạt, vừa tham gia phòng lũ, bảo đảm an toàn công trình và hạ du, vừa tận dụng khả năng tích nước.
Trong phân bổ nguồn nước, nhu cầu sinh hoạt cần được ưu tiên. Cùng với đó là bảo đảm nước cho các ngành sản xuất thiết yếu, phù hợp với khả năng thực tế của từng lưu vực.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là sớm công bố kịch bản nguồn nước trên các lưu vực sông. Đây sẽ là cơ sở để các địa phương xây dựng phương án phòng, chống hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn. Với những lưu vực được xác định thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng, cần xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước phù hợp.
Các địa phương cũng cần chủ động điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ, diện tích canh tác; điều chỉnh chế độ khai thác nước tại hạ du các hồ chứa thủy điện và nâng cao khả năng tích trữ của các hồ thủy lợi hiện có. Mục tiêu là sử dụng hiệu quả nguồn nước hạn chế, ưu tiên nhu cầu dân sinh.
Đặc biệt, cần xây dựng phương án ứng phó với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước về các hồ chứa thủy điện trong những tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027. Việc này giúp chủ động điều tiết nước cho hạ du trong mùa khô năm 2027, nhất là nguồn nước sinh hoạt tại miền Trung và Đông Nam Bộ.
El Nino mạnh trong những tháng cuối năm 2026 đang tạo thêm áp lực đối với an ninh nguồn nước của Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không chỉ phụ thuộc vào diễn biến thời tiết mà còn phụ thuộc vào khả năng dự báo, tích trữ và điều tiết nguồn nước.
Vì vậy, chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động chuẩn bị kịch bản là yêu cầu cấp thiết. Mỗi lưu vực, mỗi vùng và từng nhóm nhu cầu sử dụng nước cần có phương án phù hợp, thay vì áp dụng một cách tiếp cận chung.
Khi nguồn nước được dự báo sớm, hồ chứa được tích nước hợp lý, sản xuất được điều chỉnh phù hợp và việc phân bổ được thực hiện theo kịch bản, tác động của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn sẽ có thêm dư địa để kiểm soát.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu tiếp tục làm gia tăng những biến động về thời tiết và nguồn nước, chủ động chuẩn bị không chỉ là giải pháp cho mùa khô 2026-2027 mà còn là hướng đi cần thiết trong quản lý tài nguyên nước lâu dài.
TT (theo TTXVN)