Xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển hiệu quả
Dự thảo Luật bổ sung cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển, xử lý chồng lấn, xung đột và bảo đảm khai thác hiệu quả, bền vững.

Sáng 22/9, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển
Trình bày Tờ trình, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển; bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Dự thảo Luật bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển; cơ chế giải quyết chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển; phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; quản lý công trình trên biển. Cùng với đó, bổ sung cơ chế xác lập và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển. Việc thực hiện quyền phải bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch và yêu cầu quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Theo Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang quản lý, sử dụng không gian biển đồng thời đề nghị bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển vào phạm vi điều chỉnh. Cơ quan thẩm tra yêu cầu xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm quản lý tổng hợp không làm thay đổi, chồng lấn thẩm quyền quản lý chuyên ngành và không phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.

Về chính sách và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển (điều 4, điều 5), Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung trong dự thảo Luật, đồng thời đề nghị làm rõ hơn các nguyên tắc cốt lõi của quản lý tổng hợp. Theo đó, việc quản lý phải bảo đảm điều phối liên ngành, giải quyết xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, nhưng không thay thế thẩm quyền quản lý theo pháp luật chuyên ngành.
Việc phân bổ không gian biển phải tôn trọng các quyền hợp pháp đã được xác lập, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng và quyền hợp pháp của các quốc gia khác theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, đây là dự án Luật rất quan trọng. Lần sửa đổi này không còn là sửa vài điều mà là đổi mới mô hình quản trị biển, tập trung vào 4 vấn đề lớn: pháp lý, quản trị, kinh tế biển và môi trường.
Về quản lý, sử dụng không gian biển, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là nội dung nền tảng. Luật phải giữ nguyên tắc quản lý cột nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển; có cơ chế xử lý chồng lấn giữa các lĩnh vực dầu khí, điện gió, nuôi biển, hàng hải, quốc phòng, bảo tồn; quy định việc sử dụng đa mục đích, sử dụng chung và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển. Đồng thời, cần định nghĩa rõ "không gian biển" ngay trong Luật để thống nhất khái niệm, tránh "va chạm" với các luật hiện hành như Luật Quy hoạch, Luật Điện lực, Luật Dầu khí 2026, Luật Địa chất và Khoáng sản.
Chủ tịch Quốc hội cho rằng, phải có cơ chế xử lý xung đột và xác định thứ tự ưu tiên minh bạch, từ quốc phòng, an toàn hàng hải, hệ sinh thái nhạy cảm, hạ tầng chiến lược đến phát triển kinh tế. Việc phân định ranh giới quản lý hành chính trên biển phải phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tránh chồng chéo.
Về quyền sử dụng khu vực biển, Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, việc dự thảo Luật cho phép chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền là cần thiết để thu hút ngân hàng, nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, dự thảo Luật phải thiết kế rõ ràng, làm rõ đây là quyền sử dụng không tạo quyền sở hữu biển, đáy biển, khối nước.
Đối với kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh phải chuyển từ xử lý sang phòng ngừa. Sức chịu tải phải trở thành điều kiện pháp lý, không chỉ là bản đồ kỹ thuật; nếu không đạt ngưỡng thì không cấp phép, gia hạn. Đồng thời, cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ vượt trội trên biển, bảo đảm nội luật hóa và phù hợp với các điều ước quốc tế.
Khẳng định lần sửa đổi này là đúng thời điểm, phù hợp với chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương về quản lý tài nguyên biển, đảo, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu dự thảo phải trả lời rõ những vấn đề cốt lõi: quyền sử dụng biển có trở thành tài sản pháp lý sạch hay không; Quy hoạch không gian biển có "thắng" giấy phép ngành hay không; dữ liệu biển có thực sự được mở, dùng chung hay tiếp tục cát cứ, chia cắt; chỗ đứng pháp lý của cộng đồng ven biển được xác định như thế nào.
Cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu.
Trong phiên họp sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Đáng chú ý, nhiều quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường đã được sửa đổi, bổ sung.
Cụ thể, về đánh giá sơ bộ tác động môi trường giảm từ 3 xuống 2 nhóm tiêu chí môi trường và giao Chính phủ quy định chi tiết; đơn giản hóa phân loại dự án từ 4 xuống 3 nhóm; cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, bổ sung thêm nhiều đối tượng được miễn đánh giá tác động môi trường và chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường. Dự thảo Luật đơn giản hóa nội dung báo cáo và trình tự thẩm định đánh giá tác động môi trường, phân định rõ thẩm quyền thẩm định; giao Chính phủ quy định phạm vi, hiệu lực của quyết định phê duyệt kết quả thẩm định đánh giá tác động môi trường để tránh chồng chéo với các công cụ quản lý khác.
Về giấy phép môi trường, dự thảo Luật cắt giảm mạnh đối tượng phải có giấy phép môi trường theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, chuyển từ "tiền kiểm" sang tăng cường "hậu kiểm"; đơn giản hóa nội dung, hồ sơ cấp phép, kéo dài thời hạn giấy phép môi trường đối với một số đối tượng và phân quyền cấp phép cho địa phương.
Báo cáo tóm tắt thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, dự thảo Luật đã cải cách, đơn giản hóa phân loại dự án theo tiêu chí môi trường thành 3 nhóm thay vì 4 nhóm như quy định hiện hành, gắn với việc thu hẹp mạnh mẽ đối tượng phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tuy vậy, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát, liệt kê cụ thể, định lượng rõ ràng tất cả các yếu tố nhạy cảm trực tiếp trong Luật để người dân và doanh nghiệp tự tra cứu chính xác, ngăn ngừa tình trạng tùy tiện áp dụng trong thực tiễn. Cùng với đó là nghiên cứu giao Chính phủ quy định danh mục chi tiết các dự án phải đánh giá tác động môi trường, các dự án phải cấp giấy phép môi trường, các dự án chỉ phải đăng ký môi trường.
Về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, Thường trực Ủy ban cho rằng, đây là quy định cải cách quan trọng nhằm khắc phục tình trạng còn nặng về tiền kiểm, chưa hiệu quả trong hậu kiểm; đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ việc miễn đánh giá tác động môi trường đối với dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cần thiết phải phân loại chi tiết trong nhóm dự án này để xác định loại dự án có lưu lượng khí thải lớn vẫn phải thực hiện đánh giá tác động môi trường để quản lý chặt chẽ nguồn phát sinh khí thải lớn.

Cho ý kiến về nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cơ bản tán thành việc sửa đổi theo hướng đơn giản hóa phân loại dự án đầu tư (từ 4 nhóm xuống 3 nhóm) đồng thời thu hẹp đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường. Đây là nội dung cải cách lớn góp phần giảm thủ tục đối với các dự án có mức độ rủi ro môi trường thấp.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát sự thống nhất giữa điều 28 về tiêu chí môi trường để phân loại dự án đầu tư, điều 30 về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, điều 39 về đối tượng phải có giấy phép môi trường và điều 49 về đăng ký môi trường. Theo đó, cần xác định rõ tương ứng với từng nhóm dự án, trường hợp nào phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, trường hợp nào phải có giấy phép môi trường, trường hợp nào chỉ đăng ký môi trường, tránh khoảng trống hoặc chồng chéo trong thực hiện. Các tiêu chí phải đủ rõ, có khả năng áp dụng thống nhất trong thực tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu rà soát kỹ quy định tại điểm c khoản 2 điều 30 về trường hợp dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; làm rõ điều kiện áp dụng nhất là yêu cầu đối với hạ tầng bảo vệ môi trường của khu, cụm công nghiệp và việc kiểm soát đối với dự án có nguồn thải lớn, xử lý chất thải nguy hại nhập khẩu phế liệu.