baohaiphong.vn

Di tích

Chùa Nhân Trai - dấu tích nghệ thuật thời Mạc

THU HƯƠNG

Chùa Nhân Trai (xã Kiến Hưng, thành phố Hải Phòng) lưu giữ nhiều hiện vật điêu khắc độc đáo, mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Mạc.

nhan-trai-1.jpg
Toàn cảnh chùa Nhân Trai (ảnh cơ sở cung cấp).

Từ am cỏ đến dải đất cố đô

Nằm tĩnh lặng giữa cánh đồng Ếch rộng lớn, trên vùng đất phù sa ven sông Văn Úc, chùa Nhân Trai (tên chữ là Phúc Linh tự) như tách biệt khỏi nhịp sống đổi thay của vùng quê. Ít ai biết rằng, trước khi mang tên Nhân Trai hay Phúc Linh tự, ngôi chùa từng được gọi là cung Nhân Thọ, thuộc tổng Cổ Trai xưa.

Khoảng cách từ chùa đến khu tưởng niệm nhà Mạc chỉ vài trăm mét. Sự gần gũi ấy như một cái duyên sắp đặt của lịch sử, bởi chính vùng đất Cổ Trai này là quê hương của vua Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung, 1483 - 1541). Chính sử ghi nhận 65 năm tồn tại (1527 - 1592), nhà Mạc đã để lại nét son đậm về kinh tế, nghệ thuật và văn hóa.

Năm 1529, sau khi nhường ngôi cho con, Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung đã chọn chính mảnh đất này để dựng xây kinh đô Dương Kinh rực rỡ một thời.

mat-tien.jpg
Phía trước ngôi chùa (ảnh cơ sở cung cấp).

Ngược dòng thời gian, huyền thoại về sự ra đời của chùa Nhân Trai đưa ta về tận triều Lý. Tương truyền, Công chúa Lý Nam Khang, ái nữ của vua Lý Nhân Tông trong một chuyến kinh lý qua đây đã bị mê hoặc bởi vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của dải đất bồi.

Bà dừng chân, cho dựng một am nhỏ lợp bằng lá cói hướng về phía tây bắc. Đến thời vua Lý Cao Tông, am cỏ năm xưa được mở rộng thành ngôi chùa nhỏ để ngư dân vùng ven biển tìm về bái Phật, cầu mong cho sóng yên biển lặng trước mỗi chuyến ra khơi.

Bước ngoặt lớn nhất gắn liền với diện mạo ngôi chùa diễn ra vào cuối năm Tân Sửu (niên hiệu Quảng Hòa, 1541). Vua Mạc Hiến Tông cho đại trùng tu Nhân Trai tự quy mô và lộng lẫy hơn, xoay hướng chùa nhìn ra đông nam, hướng về phía biển bao la. Đặc biệt, đây cũng là thời điểm tạc pho tượng chân dung vua Mạc Thái Tổ để phụng thờ.

Pho tượng gỗ tạc vị vua khai quốc đặt trang trọng phía bên phải Phật điện mang phong cách tạo hình độc đáo: Vua ngồi khoanh chân xếp bằng, dáng vẻ thon gọn, cổ ba ngấn, mũi cao, hai tay khum chắp trước bụng lộ bàn tay phải.

Áo bào khoác ngoài rộng rãi với vạt cổ chữ V, trước ngực chạm khắc hình rồng uốn lượn tỉ mỉ. Đứng chầu hai bên là 4 pho tượng Hoàng tộc: Mạc Thái Tông, Mạc Ngọc Di (Tú Hoa công chúa), Mạc Ngọc (Trạng Hoa công chúa) và Mạc Huệ (Khánh Diêm công chúa).

Tuy có quan điểm khoa học khác cho rằng pho tượng đá này là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng, nhưng dù là ai, bộ tượng Vương (hay tượng ông Hoàng) tại chùa Nhân Trai cùng với hệ thống tượng tại chùa Trà Phương, chùa Hòa Liễu, chùa Trung Hành vẫn là những tác phẩm điêu khắc hoàng gia vô giá của thời Mạc còn vẹn nguyên đến ngày nay.

Điểm đặc biệt trên vương đản các pho tượng thời Mạc chính là biểu tượng chim thần chúc đầu xuống phía dưới.

Theo Giáo sư Đinh Khắc Thuân, Viện Hán Nôm Việt Nam trong cuốn Văn bia thời Mạc dẫn lời của nhà nghiên cứu Triệu Thế Việt, đây là linh vật tiêu biểu trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hình ảnh chim thần đậu trên đỉnh mũ, chúc đầu xuống dưới tượng trưng cho quan niệm nhân sinh sâu sắc của Phật giáo, luôn cúi xuống, hòa mình vào đời sống nhân gian để cứu độ chúng sinh.

Trầm tích nghệ thuật qua thăng trầm lịch sử

tuong-da.jpg
Tượng đá thờ trong chùa (ảnh cơ sở cung cấp).

Trải qua thăng trầm lịch sử và thời gian, chùa Nhân Trai ngày nay vẫn như một "bảo tàng sống" lưu giữ những hiện vật điêu khắc đá và gỗ đỉnh cao.

Ấn tượng đầu tiên đối với bất kỳ ai bước chân vào nền chùa cũ là bộ 6 thành bậc đá cổ thời Mạc. Trong đó, 2 thành bậc rồng dài 152 cm, cao 65 cm thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Mạc là "Rồng uốn khúc mềm mại, đầu ngẩng cao, sừng to, râu cằm dài và chân trước nắm lấy râu đầy uy nghi". 4 thành bậc đá còn lại được chạm khắc mây xoắn tinh xảo dài 138 cm.

Tiến sâu vào Phật điện, không gian tâm linh trở nên huyền ảo với bộ tượng Tam Thế Phật ngự trên vị trí cao nhất, tượng trưng cho đức Phật ở thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngay trung tâm là pho tượng A Di Đà bằng gỗ ngự trên bệ đài hoa sen. Hệ thống tượng Quan Âm Niêm Hoa, Quan Âm Nam Hải, Văn Thù, Phổ Hiền cùng điện thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Đức Ông... tạo nên một chỉnh thể tín ngưỡng hài hòa, đậm đà bản sắc Việt.

Mỗi vết hằn rêu phong trên mái chùa là một mảnh ghép của lịch sử. Sách Chùa cổ Hải Phòng dẫn từ văn bia chữ Hán "Sáng lập minh bi" viết: Năm Kỷ Mão (1579), Nhất hậu chủ Mạc Đôn Nhượng (tự Huyền Đức) đã đứng ra hưng công đại trùng tu ngôi chùa. Tiếp đó, các triều vua Nguyễn như Gia Long (1809), Thiệu Trị (1846), Thành Thái (1893), Duy Tân (1910) và Bảo Đại (1934) đều ghi dấu những lần trùng tu, tôn tạo.

Trước những ảnh hưởng do thời gian và thời tiết, trong giai đoạn 1996 - 1998, nhân dân địa phương đã góp công, góp của cùng nhau tôn tạo, giúp chùa vượt qua nguy cơ hư hại nặng. Năm 2020, ngôi Đại hùng bảo điện được đầu tư trùng tu quy mô, trả lại vẻ uy nghiêm, rộng rãi, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của đông đảo Tăng Ni, Phật tử và du khách thập phương.

Chùa Nhân Trai không đơn thuần là một công trình kiến trúc tâm linh. Nơi đây là gạch nối giữa quá khứ rực rỡ của vùng đất kinh đô Dương Kinh xưa với hiện tại.

Giữa tiếng chuông chùa ngân vang qua cánh đồng Ếch lộng gió, hơi thở của lịch sử vẫn đang thì thầm qua từng nét chạm đá, từng pho tượng cổ, nhắc nhở thế hệ hôm nay về một di sản văn hóa trường tồn cùng thời gian.

THU HƯƠNG