Đại biểu Hải Phòng trăn trở vấn đề an sinh sau thu hồi đất
Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng băn khoăn về việc bố trí sinh kế cho người dân tại nơi ở mới, thực hiện quy định chuyển tiếp và áp dụng tỷ lệ 75% đồng thuận khi thu hồi đất theo Luật Đất đai.

Ngày 29/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Đất đai (sửa đổi).
3 đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng phát biểu thảo luận ở hội trường, chỉ ra nhiều bất cập trong dự thảo luật. Trong đó, các đại biểu bày tỏ sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của người dân khi thu hồi đất.
Đất không chỉ là kinh tế, đất là căn cốt của an sinh
Phát biểu ở hội trường, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Uỷ viên Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh: "Đất đai là nguồn lực đặc biệt quan trọng của quốc gia, vừa là tư liệu sản xuất, vừa là không gian sinh tồn, gắn bó với đời sống của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng. Đất đai không chỉ cần được nhìn nhận dưới góc độ nguồn lực kinh tế mà còn là căn cốt của vấn đề an sinh".
Từ cách tiếp cận đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng đối với người dân bị thu hồi đất, phải lấy an cư, lạc nghiệp là “cái gốc”, là nền tảng của an sinh.
Dự thảo hiện đã quy định trách nhiệm bảo đảm sinh kế, hỗ trợ người dân ổn định đời sống; yêu cầu khu tái định cư có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đáp ứng các điều kiện thiết yếu. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định cuộc sống của người dân sau thu hồi đất đã thực sự ổn định?
"Đây thực sự là điều khó và rất đáng được quan tâm. Bởi cực chẳng đã mọi người mới phải rời xa nơi chôn rau cắt rốn, nơi có phong tục tập quán quen thuộc gắn bó bao đời…", đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn chia sẻ.
Hộ gia đình có thể được bố trí tái định cư khang trang hơn, nhưng trước đây họ vừa ở vừa kinh doanh, nay chuyển đến chung cư không còn điều kiện buôn bán, phải thuê mặt bằng, chi phí sinh hoạt tăng lên. Nông dân sau khi nhận tiền bồi thường nhưng mất đất sản xuất, lao động lớn tuổi khó tìm việc làm mới. Nếu chỉ căn cứ vào số tiền chi trả và suất tái định cư để xác định hoàn thành chính sách thì chưa phản ánh đúng nguyện vọng người dân.
Điều đó cho thấy cần phân biệt giữa “hoàn thành việc bồi thường” với “hoàn thành mục tiêu ổn định cuộc sống”.
"Tôi đề nghị việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải gắn với đánh giá tác động đến điều kiện sống của người dân trước và sau thu hồi đất. Trong đó, cần xác định một số tiêu chí thiết yếu như khả năng tạo lập chỗ ở mới, thu nhập từ đất bị thu hồi, việc làm, chi phí đi lại, khả năng tiếp cận trường học, y tế và các dịch vụ công. Chính sách cần được thiết kế để hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng. Người mất đất sản xuất cần phương án chuyển đổi sinh kế; hộ kinh doanh cần điều kiện duy trì hoạt động; người cao tuổi, người khuyết tật và các hộ khó khăn cần được xem xét những nhu cầu đặc thù", đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc theo dõi, đánh giá kết quả ổn định đời sống sau tái định cư, việc đánh giá thực hiện theo những mốc thời gian nhất định để phát hiện sớm các trường hợp chưa phục hồi được sinh kế và có biện pháp hỗ trợ phù hợp.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị cần bảo đảm quyền lợi và sinh kế của người dân khi áp dụng cơ chế thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Một dự án nhưng nhiều phương án đền bù vì khác thời điểm

Trước đó, phát biểu ở hội trường, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga cũng lo lắng vấn đề an sinh với người bị thu hồi đất. Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 46 một số nguyên tắc cơ bản, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần xác định những nhóm người có nguy cơ mất nguồn sinh kế chủ yếu sau thu hồi đất để có biện pháp hỗ trợ phù hợp, đặc biệt đối với hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; đồng thời, quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá kết quả phục hồi sinh kế sau thu hồi đất.
Bày tỏ sự lo ngại việc áp dụng quy định mới có thể gây ra tình trạng cùng 1 dự án nhưng có nhiều phương án đền bù khác nhau do khác thời điểm, đại biểu nhấn mạnh những quy định chuyển tiếp khi luật mới có hiệu lực là rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và nguồn thu ngân sách nhà nước.
Điều 110 và điều 111 có những quy định linh hoạt trong lựa chọn, căn cứ xác định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng sự linh hoạt phải được đặt trong những giới hạn pháp lý rõ ràng.
"Điều tôi băn khoăn là dự thảo chưa quy định đầy đủ các tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn phương án áp dụng. Nếu không có tiêu chí thống nhất, cùng một dự án, những người dân có đất bị thu hồi ở các thời điểm khác nhau có thể được áp dụng những cơ chế bồi thường khác nhau. Những dự án có điều kiện tương tự cũng có thể được xác định nghĩa vụ tài chính theo những phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào quyết định của từng địa phương. Như vậy, một cơ chế được thiết kế để tháo gỡ khó khăn có thể lại làm phát sinh sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, thậm chí tạo ra nguy cơ khiếu kiện và những bất bình đẳng mới", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga chỉ ra.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung trong luật các nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn pháp luật áp dụng đối với những trường hợp chuyển tiếp. Đối với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, việc lựa chọn phương án phải bảo đảm không làm giảm những quyền lợi đã được xác lập hợp pháp của người dân; những trường hợp có điều kiện tương tự phải được giải quyết theo tiêu chí thống nhất.
Đối với nghĩa vụ tài chính về đất đai, cần xác định rõ căn cứ lựa chọn phương pháp định giá, thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm công khai, giải trình của cơ quan quyết định.
Luật có thể trao quyền chủ động cho địa phương, nhưng không nên trao quyền lựa chọn giữa các cơ chế pháp luật khác nhau mà thiếu những tiêu chí kiểm soát cụ thể.
Không mặc nhiên phát sinh quyền thu hồi đất chỉ vì 75% đồng thuận

Góp ý về nội dung này, đại biểu Vũ Văn Tiến, Uỷ viên Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội đồng tình việc mở rộng một số trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, quy định tại Điều 34 và Điều 38.
Đáng chú ý, tại điểm i khoản 4 Điều 34, dự thảo quy định trường hợp nhà đầu tư đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trên 75% diện tích và trên 75% số lượng người sử dụng đất thì HĐND cấp tỉnh xem xét, thông qua việc thu hồi phần diện tích còn lại.
Chính phủ đã giải trình quy định này nhằm xử lý những dự án đã thỏa thuận được phần lớn diện tích nhưng không thể triển khai do còn một số trường hợp chưa đạt được thỏa thuận; đồng thời, bổ sung cơ chế bảo đảm người bị thu hồi đất không nhận mức bồi thường thấp hơn mức giá thỏa thuận bình quân (khoản 3 Điều 42).
Đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng đây là hướng tiếp cận có cơ sở thực tiễn nhưng cần hết sức thận trọng khi chuyển từ quan hệ thỏa thuận dân sự sang cơ chế Nhà nước thu hồi đất.
Vấn đề cốt lõi không chỉ là tỷ lệ 75%, mà là ranh giới giữa lợi ích công cộng và lợi ích kinh doanh thương mại. Nếu không xác định rõ, cơ chế này có thể bị lợi dụng để chuyển rủi ro thương lượng của nhà đầu tư sang Nhà nước và người sử dụng đất.
Do đó, đại biểu Vũ Văn Tiến kiến nghị bổ sung ngay tại điểm i khoản 4 Điều 34 các điều kiện áp dụng chặt chẽ hơn; có cơ chế kiểm tra độc lập đối với việc xác định tỷ lệ đồng thuận và phương án bồi thường; quy định rõ cách xác định tỷ lệ 75%, quy định việc thu hồi phần diện tích còn lại chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, không mặc nhiên phát sinh quyền thu hồi đất chỉ vì đạt tỷ lệ 75%.
PHONG TUYẾT - KHÁNH HUYỀN