Từ dữ liệu đến những tuyến đường thông suốt
Hải Phòng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, xây dựng Trung tâm dữ liệu để điều hành giao thông chủ động, bảo đảm giao thông thông suốt.

UBND thành phố Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 440/KH-UBND ngày 30/10/2026 về việc triển khai xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông nhằm đưa công nghệ vào phục vụ những chuyển biến cụ thể trên mỗi tuyến đường.
Kế hoạch xác định rõ yêu cầu đổi mới phương thức quản lý giao thông, từ bị động ứng phó với các tình huống phát sinh sang điều hành, phòng ngừa chủ động dựa trên dữ liệu thời gian thực. Đây là bước chuyển cần thiết, đặt ra yêu cầu cao hơn cả về đầu tư hạ tầng, năng lực vận hành và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan.
Với thành phố Cảng, nơi hoạt động vận tải hàng hóa gắn chặt với sản xuất, kinh doanh, sự thông suốt của giao thông có ý nghĩa trực tiếp đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế. Một điểm ùn tắc kéo dài có thể ảnh hưởng đến hành trình của nhiều phương tiện, làm chậm thời gian giao nhận hàng. Mỗi bất cập trong tổ chức giao thông nếu được phát hiện, xử lý sớm có thể giảm nguy cơ xảy ra tai nạn. Vì thế, dữ liệu cần trở thành căn cứ để quyết định kịp thời, chính xác hơn.
Theo kế hoạch, đến năm 2028, Hải Phòng đặt mục tiêu đưa Trung tâm cấp 2 tại Phòng Cảnh sát giao thông vào vận hành; triển khai camera trên một số tuyến giao thông trọng điểm và tối thiểu 23 trong số 46 đơn vị hành chính cấp xã loại 1. Hai dự án thành phần về trung tâm dữ liệu và hệ thống camera, cụm xử lý, lưu trữ vùng có tổng kinh phí dự kiến 352,5 tỷ đồng. Con số này sẽ được xác định chính xác khi lập, thẩm định, phê duyệt dự án.
Nguồn lực ấy cần được chuyển hóa thành hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, đánh giá kết quả triển khai cần vượt ra ngoài số camera được lắp đặt hay khối lượng thiết bị được nghiệm thu. Những tiêu chí đáng quan tâm là thời gian phát hiện, xử lý sự cố; khả năng cảnh báo nguy cơ; hiệu quả điều tiết tại các nút giao; mức độ thuận tiện khi người dân tiếp cận thông tin và thực hiện thủ tục.
Trong đó, xử lý vi phạm qua hình ảnh là công cụ góp phần giữ nghiêm kỷ cương giao thông. Khi hành vi vi phạm được phát hiện khách quan, xử lý nhất quán, người tham gia giao thông có thêm ý thức tự giác chấp hành.
Tuy nhiên, dữ liệu thu được còn cần phục vụ việc nhận diện những vị trí thường xuyên xảy ra xung đột, những khung giờ có lưu lượng phương tiện lớn, những bất hợp lý về đèn tín hiệu, biển báo, tổ chức làn đường. Mỗi bất cập được khắc phục từ thực tiễn sẽ làm rõ hơn giá trị của đầu tư công nghệ.
Muốn vậy, trước hết phải giải quyết tốt "bài toán" kết nối. Camera của các cơ quan, địa phương, doanh nghiệp chỉ có thể phát huy hiệu quả chung khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chia sẻ dữ liệu theo quy chế thống nhất. Nếu đầu tư riêng lẻ, thiếu khả năng liên thông, thành phố có nguy cơ phải trả thêm chi phí tích hợp, thay thế, trong khi thông tin phục vụ điều hành vẫn bị chia cắt.
Do đó, Kế hoạch yêu cầu kiểm kê, đánh giá, phân loại toàn bộ camera, hạ tầng truyền dẫn, cơ sở dữ liệu hiện có; rà soát, hợp nhất danh mục dự án để loại trừ trùng lặp. Những công việc này cần được thực hiện kỹ ngay từ đầu. Tận dụng thiết bị còn đáp ứng yêu cầu, lựa chọn công nghệ phù hợp, tính đủ chi phí bảo trì và vận hành lâu dài là cách bảo đảm đồng vốn đầu tư được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả.
Cùng với kết nối là chất lượng và sự an toàn của dữ liệu. Hình ảnh phục vụ xử lý vi phạm cần rõ ràng, chính xác, có quy trình kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ. Việc khai thác, chia sẻ phải được kiểm soát, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm. Người dân cần được hướng dẫn thuận tiện để tra cứu, phản hồi khi có thông tin chưa chính xác. Công nghệ càng được ứng dụng rộng, yêu cầu minh bạch và trách nhiệm giải trình càng phải được coi trọng.
Một trung tâm hiện đại cũng cần đội ngũ đủ năng lực vận hành. Cán bộ phải hiểu hệ thống, biết phân tích thông tin và phối hợp xử lý tình huống. Đào tạo cần gắn với chuyển giao công nghệ, thực hành và khả năng chủ động khắc phục sự cố. Đồng thời, đầu mối tiếp nhận thông tin, thời gian phản ứng, trách nhiệm xử lý giữa các lực lượng phải rõ ràng. Cảnh báo được phát hiện sớm chỉ thực sự có ích khi dẫn đến hành động kịp thời.
Lộ trình đến năm 2028 và năm 2030 cần được cụ thể hóa bằng tiến độ và kết quả kiểm chứng được ngay từ từng nhiệm vụ. Trách nhiệm của người đứng đầu phải gắn với chất lượng đầu tư, khả năng vận hành và hiệu quả phối hợp. Cùng với đó là tuyên truyền để người dân hiểu, đồng thuận và chủ động chấp hành quy định giao thông.
Thành công của hệ thống quản lý giao thông bằng dữ liệu sẽ hiện diện trong những chuyến đi an toàn hơn, những sự cố được giải quyết sớm hơn, những tuyến đường thông suốt hơn. Đó là thước đo thiết thực để Hải Phòng tổ chức thực hiện kế hoạch, đưa chuyển đổi số đến gần cuộc sống.
NGUYỄN DƯƠNG