Được khởi dựng từ thế kỷ XVII, thời Hậu Lê, chùa Linh Ứng (hay còn gọi là chùa Hà Tràng) ở thôn Hà Tràng, xã Thăng Long (Kinh Môn) nay vẫn giữ được nét cổ kính, u tịch.

6 tháp gạch cổ từ thời Lê và thời Nguyễn trong khuôn viên chùa
Chùa được xây dựng ở trung tâm thôn Hà Tràng, trên nền một ngôi miếu cổ. Trước đây ở bên phải chùa có một ngôi đình lớn thờ ba vị Thành hoàng thời Hùng Vương, phía bắc có ngôi nghè thờ tiến sĩ, phía tây có cây cầu đá cổ bắc qua sông Tràng Cổ. Chùa và cầu được xây dựng nằm giữa khu đất đình, nghè, miếu, tạo thế "rồng chầu hổ phục". Chùa thờ Phật và ba vị Trúc Lâm tam tổ là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Cả ba vị thiền sư này được suy tôn là Trúc lâm tam tổ của Việt Nam, được xem như ngang hàng với 6 vị tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ, được thờ ở chùa Côn Sơn và nhiều chùa khác trong cả nước. Ngoài thờ Phật, chùa hiện còn thờ ba vị Thành hoàng có công giúp vua Hùng giữ nước là Cư sĩ đại vương họ Triệu, Quảng Ngãi đại vương họ Nguyễn, Đô Thụy đại vương họ Nguyễn. Ba vị này trước được thờ tại đình làng, từ khi đình bị phá, nhân dân rước ngai, bài vị và mũ về chùa thờ phụng.
Không chỉ là nơi phục vụ nhu cầu tâm linh, chùa Linh Ứng còn là cơ sở cách mạng của địa phương. Thời kỳ chống Pháp, đây là nơi nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội địa phương, sau đó là nơi nhân dân học Bình dân học vụ, rồi trở thành trường phổ thông. Đến thời chống Mỹ, chùa là nơi đóng quân của bộ đội, địa điểm họp của cán bộ địa phương.
Chùa Linh Ứng là công trình kiến trúc từ thời Lê, Nguyễn với quy mô không lớn nhưng khá đẹp và đồng bộ. Chùa hiện lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị về lịch sử và nghệ thuật như 32 tượng Phật bằng gỗ sơn son thiếp vàng, 6 ngọn tháp gạch, 1 chuông đồng, 5 bia đá thời Lê và thời Nguyễn… có giá trị. Đây là những bằng chứng ghi lại tầm vóc của chùa trong lịch sử. Là ngôi chùa lớn nhất của tổng Hà Tràng xưa, chùa được xây dựng vào thời Hậu Lê, trùng tu vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Chùa chính kiểu chữ Đinh, gồm tiền đường và thượng điện, mái lợp ngói ta, hai bên đầu hồi có 4 trụ, bên trên đắp quả dành dành, ở giữa có bảng ghi 3 chữ “Linh Ứng Tự”. Tòa tiền đường 5 gian rộng 72 m2, cửa bức bàn trơn, ngưỡng cao 40 cm, nhà làm kiểu lòng thuyền tứ trụ, các cột lim nhỏ đường kính 20 cm. Vì kiểu con chồng đấu sen, ở các đầu đấu chạm khắc hoa sen cách điệu, có trụ khắc chữ thọ, chữ triện hoặc lá lật. Bức cốn gian trung tâm tòa tiền đường ở hai phía bên phải và trái chạm lộng trúc cài hoa lá. Mỗi bức cốn, sà đinh chạm những hình khác nhau, chủ yếu là tứ linh, tứ quý và các loài động vật gần gũi với nông dân, nét chạm khắc mềm mại, tinh xảo mang đậm tính dân tộc.
32 pho tượng Phật bằng gỗ sơn son thếp vàng trong chùa được kiến tạo từ thời Lê và thời Nguyễn với nhiều kiểu dáng khác nhau, biểu hiện sự phong phú, đa dạng của Phật giáo. Đặc biệt có hai pho tượng Hộ pháp cao 2 m rộng 80 cm từ thời Lê được chạm trổ tinh xảo và quả chuông đồng cao 120 cm, đường kính miệng 60 cm. Chuông đúc vào ngày 20 - 11 năm Minh Mạng thứ 16 (1835). Quai chuông là hình rồng uốn cong, thân chuông có khoảng 600 chữ Hán ghi tên những người công đức đúc chuông. Chuông có tên là “Linh Ứng chung tự”, riềm dưới chuông chia làm 4 bảng trang trí tứ linh và hoa văn, có 2 đường riềm nhỏ đúc hoa thị chạy tròn xung quanh. Đây là một quả chuông cỡ lớn còn lại ở các chùa trong tỉnh. Cạnh mái chùa cổ kính, rêu phong thấp thoáng 6 ngọn tháp gạch từ thời Lê và thời Nguyễn, nơi an nghỉ các vị sư tổ đã viên tịch tại chùa. Tại khu vực vườn tháp ở sát tường bao có 4 tấm bia hậu thần và hậu Phật. Phía trước chùa là giếng gạch cổ miệng kè đá, mặt nước trong vắt hài hòa với khung cảnh nhiều cây lá trong khuôn viên chùa tạo nên khung cảnh nên thơ, bình dị.
Lễ hội chùa Linh Ứng được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng hằng năm, phần lễ gồm dâng hương, tế, lễ, phần hội gồm nhiều trò vui dân gian như chọi gà, bịt mắt bắt dê, hát chèo, lễ cầu may… thu hút đông đảo nhân dân địa phương và khách thập phương tham dự. Để bảo tồn và lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa giá trị đó, quần thể di tích chùa và cầu đá Hà Tràng đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử, văn hóa quốc gia năm 1999.
Hiện nay, chùa đã xuống cấp, phần mái tòa tiền đường và thượng điện nhiều chỗ ngói bị vỡ, gỗ bị mục, các tượng Phật bằng gỗ đã bị mục ruỗng, phần sân gạch của chùa thường xuyên ngập úng. Vì vậy, các cấp chính quyền và các ngành chức năng cần quan tâm tu bổ ngôi chùa cũng như bảo tồn những cổ vật có giá trị.
VIỆT QUỲNH